Wednesday, September 23, 2020

Ai mà khóc Tố Như!

 Lấy ngữ pháp để giải thích Truyện Kiều [1]

(Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê)

 

Việt Luận

22/9/2020

 

Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Không biết ba trăm năm nữa, còn ai khóc Tố Như không?

Ai hỏi câu đó?

 


Xin thưa: cách đây 200 năm, một người đã chết vì ôn dịch đã hỏi thế. Lúc đó, Việt Nam bị dịch hoành hành. Nhiều người chết lắm. Trong số người mắc dịch có một ông 54 tuổi. Hơi tàn sức cạn, người ấy nằm sòng soãi trên giường. Con cháu tất bật tìm thầy chạy thuốc. Nhưng con bệnh không chịu uống chén thuốc nào cả. Rồi một ngày, con bệnh ấy nhờ người thân sờ vào tay chân rồi hỏi ‘Nóng hay lạnh?’ Người thân trả lời ‘Đã lạnh cả rồi!’ Kẻ hấp hối đáp lại chỉ một tiếng: ‘Được’. Rồi từ đó, gian nhà im tịch tịch. Con bệnh lặng lẽ giã từ cõi đời.

Người ra đi ấy là Nguyễn Du, hiệu là Tố Như, tác giả truyện Kiều.

 

Hôm nay, Việt Luận mạn phép khóc Tố Như và hỏi ‘Bất tri nhất bách dư niên hậu…?’ Một trăm năm nữa còn ai nhớ người để lại cho Việt Ngữ 3,254 câu thơ lục bát mà chúng ta gọi là truyện Kiều. Hôm nay, dám có người Việt Nam không biết Tố Như là ai, nhưng ít nhất cũng nghe qua Nguyễn Du. Dám có người Việt Nam không còn nghe Nguyễn Du, nhưng ít nhất cũng thấy người ta nhắc tới truyện Kiều. Thảng hoặc không còn người Việt Nam nào nhắc tới truyện Kiều nữa, thì bao lâu còn người nói tiếng Việt bấy lâu chữ của truyện Kiều còn văng vẳng trong lời ăn tiếng nói của người ấy.

Văng vẳng vì ngòi bút của kẻ đa tài này vừa gom góp tiếng dân dã vào truyện Kiều vừa khởi đầu cho lối nói thật Việt Nam. Những ‘đầu trâu mặt ngựa, ăn xổi ở thì, vật đổi sao dời, muôn binh nghìn tướng, máu chảy ruột mềm, nước chảy hoa trôi, …’ ở của miệng của chúng ta hôm nay – đã thấy trong Kiều cách đây hơn 200 năm. Nguyễn Du đã gom góp lời quê để ‘mua vui được vài trống canh’. Khi làm thế, ông cũng khởi đầu cho những lối nói thật Việt Nam. Việt Nam đến độ người mình nói mà không biết đấy là ‘văn chương’ của Kiều.

Như các tác phẩm văn chương cổ điển trên thế giới, truyện Kiều của Nguyễn Du cho chào đời những nhân vật trở thành cá tính của người đời. Thần thoại Hy Lạp để lại những Hercules dũng mãnh, Venus diễm lệ, Eros nóng bỏng…. thì đã là người Việt Nam những Sở Khanh, Tú Bà, Hoạn Thư, Từ Hải… không cần phải viết hoa nữa. Thật vậy, làm thân con gái thì ai mà chả sợ thằng sở khanh. Ngược lại nam nhi chi khí thì phải mơ thành từ hải với ‘vai năm thước rộng, thân mười thước cao!’. Nhân vật trong truyện Kiều đã thành cá tính của ai đó trong đời thường. Khen ai thì khen ‘mười phân vẹn mười’. Kiều đó. Mỉa mai ai thì ‘mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao’. Lại Kiều.

Có những lúc, người ngày nay dùng lại thủ pháp của Nguyễn Du mà không hay. Nói đến tình đã bén mà còn e ấp thì ‘tình trong như đã, mặt ngoài còn e’. Để tránh so đo hơn thua giữa hai người đẹp, không gì bằng tung cả hai lên tận mây xanh. Ấy là thuật nịnh đầm đã có dưới ngòi bút Nôm na cha mách qué của Nguyễn Du: ‘Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười’. Vậy là được cả hoa, lẫn huê. Thấy cảnh đời có khúc dài khúc ngắn thì nghĩ bụng:

Lạ gì bỉ sắc thư phong

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

Thương ai, có ‘dư nước mắt khóc người đời xua’ thì cũng dành tí tấm lòng cho:

Phận hồng nhan có mong manh,

Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương

à nghe!

Ba chữ ‘Nửa chừng xuân’ được Nhất Linh dùng đặt tên cho cuốn tiểu thuyết một thời chấn động ở Việt Nam.

Rằng xưa, người ta coi những vần thơ trong truyện Kiều như một kinh điển. Nói thì đúc khuôn theo Kiều. Diễn xuất trên sân khấu thì làm trò Kiều. Hát xướng thì lẩy Kiểu. Vẽ vời thì tranh Kiều. Đến ngay bói toán thì cũng có bói Kiều. Ở chốn hàn lâm thì Kiều thành đề tài tranh luận dữ dội trên văn đàn Việt Nam. Vào những năm 1920, Phạm Quỳnh tâng truyện Kiều lên mây xanh ‘truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn…’ Ngược lại, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng chê bai Kiều chỉ là cuốn dâm thư ba xu không hơn không kém. Ngô Đức Kế chê Kiều là ‘ai dâm sầu oán, đạo dục tăng bi’. Vì nặng luân lý Nho, không ít nhà đạo đức khuyên:

Đàn ông chớ kể Phan Trần

Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều…

Nhưng từ đời vua Minh Mạng đến nay, Kiều vẫn thành món ăn chơi của người sành điệu Việt Nam:

Làm trai mê đánh Tổ tôm

Mê ngựa hậu bổ, mê Nôm Thúy Kiều

Có những chữ, những câu người nói đang ‘lẩy Kiều’ mà không hay. Thấy núi đồi lồ lộ ở đâu đó, chỉ cần phán ‘Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên’, rồi cười mỉm bí hiểm. Vậy là ai cũng biết núi đồi ở đâu rồi.

Không phải người Việt lẩy Kiểu mà Tây Tàu cũng học thói này. Trong những năm gần đây, khi đến Việt Nam tổng thống Mỹ thường bỏ túi vài câu Kiều để… lẩy. Tổng thống Bill Clinton:

Sen tàn cúc lại nở hoa,

Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân

Tổng thống Barack Obama thì:

Rằng trăm năm cũng từ đây,

Của tin gọi một chút này làm ghi.

Ngay đến ông Joe Biden, khi làm phó tổng thống, cũng đã lẩy Kiều mà chơi:

Trời còn để có hôm nay

Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời.

Việt Luận

https://vietluan.com.au/36137/ai-ma-khoc-to-nhu

 

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

Monday, September 14, 2020

Như Thương & Bài viết "Nhà văn Nguyễn Thanh Việt nói gì về giải Pulitzer và các cuốn tiểu thuyết của mình?

Giang Nguyễn
2020-09-12

Nhà văn Nguyễn Thanh Việt


Giải Pulitzer là giải thưởng hàng năm của Đại Học Columbia trao cho những tác phẩm được xem là có giá trị nhất trong lãnh vực báo chí, văn học.

Hội đồng giám khảo giải Pulitzer hôm 8/9/2020 cho biết, đã chọn Nhà văn Nguyễn Thanh Việt vào hội đồng. Như vậy nhà văn Nguyễn Thanh Việt là người Mỹ gốc Châu Á đầu tiên trong hội đồng. Năm 2016, ông đã nhận giải Pulitzer cho tiểu thuyết đầu tay, The Sympathizer, dịch tiếng Việt là Cảm tình viên. Ông hiện giảng dạy tại Đại học USC ở Nam California.
Giang Nguyễn đã có cuộc trò chuyện với Giáo sư Việt.

Giang Nguyễn: Trước hết, xin chúc mừng Gs. Việt đã được bầu vào hội đồng giám khảo giải thưởng Pulitzer. Gs Việt biết được tin tức như thế nào, nó có là một bất ngờ đối với ông?

Nguyễn Thanh Việt: Không, họ đã yêu cầu tôi phục vụ trong hội đồng này vài năm nay, nhưng tôi đã quá bận rộn vì như tôi đã nói với họ, tôi đang cố gắng hoàn thành cuốn tiểu thuyết tiếp theo của mình. Khi tôi hoàn thành, tôi cảm thấy mình đã không còn bao biện được nữa và tôi phải chấp nhận. Đó không phải là một bất ngờ, nhưng vẫn là một vinh dự khi được nhận vào vị trí này.

Giang Nguyễn: Gs Việt là người Mỹ gốc Châu Á và là người Mỹ gốc Việt đầu tiên trong hội đồng. Điều này có ý nghĩa gì đối với Giáo sư nói riêng?

Nguyễn Thanh Việt: Tôi đã giành được giải thưởng Pulitzer. Chính điều đó đã tạo nên sự khác biệt lớn về danh tiếng của một tác giả và doanh số bán sách. v.v. Rõ ràng giải Pulitzer được đánh giá cao tại Mỹ, và cả ở ngoài nước Mỹ. Giải thưởng này nặng cân về giá trị văn hóa. Tôi biết điều này vì sau khi tiểu thuyết Cảm tình viên giành được giải thưởng Pulitzer, đột nhiên rất nhiều người liên lạc với tôi, những người chưa từng đọc cuốn sách, và có thể sẽ không bao giờ đọc cuốn sách, nhưng rất tự hào khi có một người Việt Nam đoạt giải. Tôi đã được nghe từ rất nhiều người ở Việt Nam cũng như người Việt ở hải ngoại.

Vì vậy, mặc dù họ có thể không đọc được tiếng Anh, dù họ có thể không ở Hoa Kỳ, họ biết về danh tiếng của giải thưởng. Điều đó thực sự quan trọng. Và việc trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên và người Mỹ gốc Á đầu tiên trong hội đồng chấm giải cũng rất quan trọng. Bởi vì chúng ta đều biết rằng các giải thưởng thường không chỉ được trao trong một môi trường trung lập mà trong một môi trường, nơi đó các giám khảo với những thành kiến của họ, nguồn gốc của họ, quan điểm của họ sẽ định hình quyết định của họ. Vì vậy, nếu chúng ta muốn có giải thưởng ghi nhận những tiếng nói đa dạng và những trải nghiệm đa dạng, chúng ta cần có những ban giám khảo và hội đồng giải thưởng đa dạng. Thật đáng buồn khi hội đồng giám khảo giải Pulitzer không có một thành viên người Mỹ gốc Á nào trước tôi. Tôi không nghĩ mình xứng đáng với vinh dự đó, nhưng tôi rất vui để nhận vai trò đó nhằm mang lại thêm sự chú ý đến nhu cầu cần thiết của sự đa dạng trong các hội đồng và các ban giám khảo.

Các giải thưởng thường không chỉ được trao trong một môi trường trung lập mà trong một môi trường, nơi đó các giám khảo với những thành kiến của họ, nguồn gốc của họ, quan điểm của họ sẽ định hình quyết định của họ.

Giang Nguyễn: Nhắc đến điều này, thời gian qua có rất nhiều thảo luận về nhu cầu đa dạng hóa trong truyền thông và trong những mẫu chuyện được kể hoặc không được kể. Vậy Giáo sư nhận xét thế nào về vai trò của mình trong hội đồng, trong bối cảnh cần mang lại nhiều tiếng nói đa dạng hơn cho nhiều độc giả hơn không?

Nguyễn Thanh Việt: Hội đồng Pulitzer đưa ra quyết định cuối cùng về các khuyến nghị mà các ban giám khảo đề xuất cho họ. Vì vậy, tôi nghĩ nơi can thiệp hoặc cuộc trò chuyện đầu tiên phải là ai sẽ có mặt trong các ban giám khảo giải thưởng, cả về giới tính, các nguồn gốc khác nhau, v.v. Và sau đó sẽ đến cuộc thảo luận về cuốn sách hoặc bài báo hoặc bộ truyện nào sẽ nhận được giải thưởng, đó là lúc hội đồng giám khảo quyết định dựa trên các đề xuất này. Và ở đó, tôi nghĩ rằng, có những tiếng nói có thể giải thích được vì sao phải nhận thức được các loại câu chuyện khác nhau, các loại kinh nghiệm khác nhau, là điều quan trọng.

Tôi nghĩ đó, một phần, là vai trò mà tôi sẽ mang đến cho hội đồng giám khảo. Nhưng cũng có những thành viên hội đồng khác, xuất thân từ những hoàn cảnh đa dạng, và tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều nhận thức được nghĩa vụ này, là nhắc nhở nhau và cho chính bản thân là thế giới này đầy những con người khác nhau với những trải nghiệm khác nhau. Điều đó cần được phản ảnh và thể hiện trong truyền thông báo chí, và kể cả trong nghệ thuật.

Giang Nguyễn: Bây giờ đã là năm 2020 nhưng chúng ta, những người da màu hoặc những người có những trải nghiệm khác với xu hướng chính thống, vẫn phải phấn đấu để giải thích hay “thông dịch” những câu chuyện của mình cho các biên tập viên chính thống hoặc những người không hiểu nó. Gs Việt có lời khuyên gì cho những nhà văn da màu hoặc những nhà văn với những hoàn cảnh khác dòng chính? Giáo sư nói với họ những gì?

Nguyễn Thanh Việt: Có nhiều thay đổi từ khi tôi là một nhà văn đầy khát vọng và là một người trẻ tuổi. Mọi thứ tốt hơn một chút, chúng tôi có nhiều hình mẫu hơn, chúng tôi có nhiều tác giả xuất bản hơn với các nguồn gốc khác nhau. Nhưng tôi vẫn nghe những câu chuyện các bạn gặp phải: nào là những rào cản, người gác cổng, và sự thiếu hiểu biết từ các biên tập viên, nhà xuất bản, đại lý, nhà phê bình, v.v... về những câu chuyện độc đáo mà những nhà văn này muốn kể. Vẫn còn nhiều vấn đề nghiêm trọng. Bạn hãy lấy cảm hứng là đã có những người từ cộng đồng của bạn đã xuất bản, hoặc từ các cộng đồng khác, mà bạn có thể cảm thông. Cá nhân tôi chẳng hạn, tôi đã lấy nguồn cảm hứng lớn từ các nhà văn người Mỹ gốc Phi và tôi nghĩ về sự cam kết lâu nay của nền văn học Mỹ gốc Phi, trong việc kể những câu chuyện của người da đen.

Vì vậy, các mô hình đã có, cánh cửa đã được mở. Đã có nhiều người phải phấn đấu trước đây, và bạn không đơn độc trong việc này. Bạn có thể tiếp cận và tìm kiếm các cộng đồng văn học đó, giống hệt như bạn hoặc gần giống như bạn để hình thành một sự đoàn kết hỗ trợ cho bạn, và cho bạn biết rằng bạn không điên khi muốn kể câu chuyện của bạn. Thật sự bạn không điên, khi bạn kể về trải nghiệm độc đáo của bạn!

Vấn đề không phải ở bạn. Đúng là bạn sẽ phải trở thành nghệ sĩ hoặc nhà văn giỏi nhất có thể. Nhưng đôi khi vấn đề là ở những người khác. Khi họ gặp một câu chuyện, cho dù được viết hay đến mấy đi nữa, khi nó xuất phát từ trải nghiệm mà họ chưa từng nghe trước đây, họ có thể quay lại với một số định kiến cơ bản của con người và sự thiếu hiểu biết. Thật không may, tất cả chúng ta đều gặp phải điều đó. Đối với mỗi một người, mỗi một công đồng có được bước đột phá, nó cũng sẽ giúp những người khác đột phá.

Giang Nguyễn: Tôi muốn hỏi về cuốn tiểu thuyết đầu tay, Cảm tình viên, của Giáo sư. Nó đã được đón nhận ở Việt Nam như thế nào?

Nguyễn Thanh Việt: Khi tôi bắt đầu viết cuốn Cảm tình viên, tôi biết tôi sẽ làm tổn thương rất nhiều người. Đó là điều tôi cân nhắc trước. Bởi vì nội dung của tiểu thuyết rất nhạy cảm đối với nhiều cộng đồng, cộng đồng người Mỹ, người Việt, người Mỹ gốc Việt. Cái mà tôi muốn là viết một tiểu thuyết không đứng về một bên và nói, bên này đúng, bên kia sai. Lý do vì sao cuộc chiến này là một thảm kịch là vì rất nhiều người đã cam kết làm điều chính nghĩa. Nhưng nếu chính nghĩa của bạn hoàn toàn trái ngược với chính nghĩa của người khác, thì bạn sẽ giải quyết như thế nào? Thực tế của vấn đề là nó không thể giải quyết được, ngoại trừ bằng chiến tranh.

Hy vọng của tôi là tôi sẽ không viết một cuốn tiểu thuyết chỉ đơn giản cho rằng quan điểm của người Mỹ gốc Việt đúng và người Cộng sản sai, hoặc ngược lại. Tôi muốn viết một cuốn tiểu thuyết cho người Việt Nam, nhưng là một tiểu thuyết nói lên sự thật theo quan điểm của tôi, ngay cả khi sự thật đó làm đau lòng.

Đối với chúng tôi, những người Việt Nam thuộc bất kỳ phía nào, tôi nghĩ rằng chúng tôi cảm thấy điều này một cách rất mật thiết. Nhiều lúc, chính gia đình của chúng ta bị phân chia, và hiển nhiên, đất nước bị chia cắt. Sự chia rẽ này vẫn còn tồn tại đối với rất nhiều người ở cả Việt Nam và hải ngoại. Vì vậy hy vọng của tôi là tôi sẽ không viết một cuốn tiểu thuyết chỉ đơn giản cho rằng quan điểm của người Mỹ gốc Việt đúng và người Cộng sản sai, hoặc ngược lại. Tôi muốn viết một cuốn tiểu thuyết cho người Việt Nam, nhưng là một tiểu thuyết nói lên sự thật theo quan điểm của tôi, ngay cả khi sự thật đó làm đau lòng. Và điều này đã xảy ra. Rất nhiều người Mỹ gốc Việt đã từ chối đọc cuốn sách vì nó được viết dưới góc nhìn của một điệp viên Cộng sản, mặc dù anh ta là một điệp viên bất nhất.

Ở Việt Nam thì tiểu thuyết này đã phải đi chặng đường rất khó khăn để dịch và xuất bản, bởi vì có rất nhiều phần trong đó chỉ trích chủ nghĩa cộng sản, Đảng Cộng Sản, và chính sách sau chiến tranh. Đó là ý nghĩa của việc nói sự thật. Bạn sẽ làm tổn thương mọi người từ mọi phía.
Đối với những người Việt từ những nguồn gốc khác nhau đã đọc cuốn sách, phần lớn, ít nhất là những người đã liên hệ với tôi, đều nói rằng họ hoan nghênh những gì cuốn sách nói lên. Bởi vì cuốn sách là sự tái hiện lịch sử này từ một góc nhìn của người Việt Nam, bất chấp những ý thức hệ mà chính quyền Việt Nam và cộng đồng hải ngoại đã cố gắng áp đặt. Tôi nghĩ rằng những câu chuyện đã được kể ở Việt Nam, bởi những người chiến thắng và những câu chuyện được kể ở hải ngoại bởi những người chiến bại, tất cả đều quan trọng. Nhưng họ có một điểm chung là từ chối lắng nghe phía đối phương.

Tiểu thuyết này cố gắng lắng nghe và nói về cả hai phía và những độc giả đã liên hệ với tôi đều chia sẻ họ rất xúc động vì điều đó. Một điều nữa cũng gây xúc động cho tôi là gặp gỡ những độc giả đã trải nghiệm qua thời đại này. Một số người đã liên lạc với tôi và nói rằng, bạn đã nắm được đúng chi tiết, như về Ngày Sài Gòn sụp đổ. Vì vậy tôi nghĩ rằng nếu độc giả sẵn sàng tiếp cận nó với một tâm hồn cởi mở, gạt bỏ một số giả định về ý thức hệ và định kiến, thì họ sẽ thấu hiểu được tiểu thuyết này.

Nào, ở Việt Nam, thì phản ứng dĩ nhiên là rất phức tạp, vì vấn đề chính trị, nhà nước và đảng. Chúng tôi đang trong giai đoạn cuối cùng để nó được chấp thuận xuất bản tại Việt Nam.

Tiểu thuyết Cảm tình viên của nhà văn Nguyễn Thanh Việt 
đoạt giải thưởng Pulitzer vào năm 2016. Viet Thanh Nguyen


Giang Nguyễn: Vậy Giáo sư đã hài lòng với bản dịch…?

Nguyễn Thanh Việt: Quá trình dịch thuật đã tốn nhiều năm. Rất nhiều năm. Vấn đề là một cuốn sách xuất bản ở Việt Nam không như một cuốn sách xuất bản ở Mỹ hay ở Pháp. Cần phải có nhiều lớp phê duyệt và việc cố gắng đưa cuốn sách đến đúng tay người có quyền phê duyệt và chịu phê duyệt nó, là một thử thách. Tôi chỉ muốn nói như vậy thôi trong giờ phút này. Chúng tôi có bản dịch, chúng tôi có bìa, chúng tôi cần sự phê duyệt cuối cùng. Mong rằng điều này sẽ sớm xảy ra.

Giang Nguyễn: Được biết là Giáo sư đang hoàn thiện tiểu thuyết tiếp theo. Giáo sư có thể cho biết thêm?

Nguyễn Thanh Việt: Tiểu thuyết đã hoàn thành và sẵn sàng để tung ra. Nó có tên là The Committed. Dự tính ban đầu là sẽ ra mắt vào tháng 10, nhưng vì COVID, thời hạn xuất bản đã bị lùi sang tháng 3. Về cơ bản, trong phần kết thúc của The Sympathizer, nhân vật cảm tình viên vẫn sống. Khi nói như vậy, chắc hẳn tôi không “bật mí” điều gì mới ở đây. Anh ta trở thành cái mà chúng ta gọi là Thuyền nhân. Anh ta lại bỏ trốn khỏi đất nước, và anh ta đi đâu? Chúng ta không biết.

Tôi không có ý định viết phần tiếp theo, đó không phải là kế hoạch từ ban đầu. Nhưng khi tôi viết xong Cảm tình viên, tôi nghĩ rằng câu chuyện của nhân vật này chưa hết. Vẫn còn nhiều điều để nói về anh ấy, vẫn còn nhiều điều để nói về nền chính trị và lịch sử mà anh ấy tham gia. Và tôi không muốn anh ấy trở về Hoa Kỳ, anh ấy đã đến đó rồi. Vì vậy, cuốn tiếp theo đưa anh đến Paris của năm 1982, và đề cập đến một di sản thuộc địa khác của người Việt chúng ta, mà người Pháp đã để lại ở Việt Nam. Thêm vào đó, có cộng đồng người Việt Nam rất lớn và sôi động ở Paris.
Tôi muốn đặt bối cảnh cuốn sách ở đây để điều tra về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của Pháp, chủ nghĩa thực dân Pháp. Nhưng cũng có một nền văn hóa rất khác ở đây mà người Pháp gốc Việt đã xây dựng. Rất khác so với những gì chúng ta thấy ở Hoa Kỳ, khác biệt trong chính trị, khác biệt về ý tưởng. Tôi thấy điều này tuyệt vời. Với The Sympathizer, tôi đã thành công trong việc làm tổn thương rất nhiều người Mỹ, và bây giờ trong The Committed, tôi đang cố gắng làm tổn thương người Pháp, bằng cách nói những gì tôi cho là sự thật về chủng tộc, chủ nghĩa thực dân và nước Pháp. Những di sản vẫn tồn tại cho đến ngày nay ở nước Pháp, bất kể bao nhiêu người Pháp muốn từ chối nó.

Giang Nguyễn: Tôi rất mong được đọc nó và tôi mong được nghe thêm những tin vui từ Giáo sư. Tôi nghĩ mọi người đang đặt rất nhiều hy vọng và nhận được rất nhiều cảm hứng từ Giáo sư. Tôi nghĩ đây là một việc làm rất quan trọng. Cảm ơn Giáo sư Việt.

Nguyễn Thanh Việt: Cảm ơn Giang, rất vui được nói chuyện với bạn.

SOURCE:

***

Như Thương (Florida) viết comment:

Tôi xin thành thật chúc mừng nhà văn Nguyễn Thanh Việt đã đoạt giải thưởng Pulitzer và cũng xin cám ơn ông Giang Nguyễn đã phỏng vấn tác giả.
Trong bài viết phỏng vấn này, có một câu viết đã làm tôi suy nghĩ lan man: "...nếu chúng ta muốn có giải thưởng ghi nhận những tiếng nói đa dạng và những trải nghiệm đa dạng, chúng ta cần có những ban giám khảo và hội đồng giải thưởng đa dạng. Thật đáng buồn khi hội đồng giám khảo giải Pulitzer không có một thành viên người Mỹ gốc Á nào trước tôi...."
Nỗi buồn của ông thật đáng trân trọng và đã làm tôi chạnh lòng!

Có thể tôi viết ra điều này thật mạo muội: Một cuộc chiến khốc liệt, bất phân thắng bại thường được giải quyết bằng ... một cuốn tiểu thuyết!!! Ý nghĩ ấy đã làm tôi nhớ đến những quyển sách như "The Lotus and the Storm" - Lan Cao, "Boat People" (Thuyền nhân) - Carina Hoàng , “Doctor Zhivago” - Boris Pasternak, "Uncle Tom's Cabin" - Harriet Beecher Stowe, “The Gulag Archipelago”- Aleksandr Solzhenitsyn.
Đó là những tác phẩm ẩn hiện bức tranh cuộc nội chiến của Mỹ, cuộc chiến kỳ thị chủng tộc giữa người da trắng và da đen, cuộc chiến giữa những người dân Nga trong gọng kềm cs, cuộc chiến sinh tử trên đại dương khi thoát thân từ chế độ cs...

Tôi là người của thế hệ "Gãy Khúc" năm 1975, chợt nhìn lại cuộc chiến VN và mong ước được đọc một tác phẩm... mở ra cái gút thắt của cuộc chiến bất phân thắng bại đó. Tại sao bây giờ tôi định nghĩa cuộc chiến VN là cuộc chiến bất phân thắng bại? Vì sau gần nửa thế kỷ, người trong cuộc, người ngoài cuộc, người thắng cuộc, người thua cuộc đều chưa cam tâm ai thắng, ai bại, vẫn còn "đánh nhau" - kể cả đồng minh và kẻ đứng ngoài lề cuộc chiến. Đó là cái GÚT THẮT OAN NGHIỆT của một dân tộc!

Cái gút thắt do Cs thế giới đã làm ra và dẫn cả thế giới hỏa mù cuộc chiến để không ai hiểu chính xác về cuộc chiến VN và đẩy dân tộc Việt Nam đã sống với dòng chảy xiết từ thời Hán thuộc đang đến cận kề vực xoáy để rồi sẽ nhấn chìm cả một dân tộc đáng thương!

***


.

Comments về lời bình của Như Thương & "Nhà văn Nguyễn Thanh Việt nói gì về giải Pulitzer và các cuốn tiểu thuyết của mình?"



Comment của anh Trịnh Hòe, Hải quân:
"Cảm tưởng và nhận xét của Như Thương quá chính xác - một người Việt Nam ưu tư về cuộc chiến và thân phận của người VN sau một cuộc chiến tàn khốc đau thương vết thương chiến tranh vẫn còn rỉ máu..."


Comment của anh T.Vấn (Web Master "T.Vấn & Bạn hữu"):
Thân gởi Như Thương,
Tôi đồng ý với "lời bình" của Như Thương về bài phỏng vấn Nguyễn Thanh Việt.
Xin phép NT tôi sẽ dùng lời bình và bài phỏng vấn trong chuyên mục "Ghi Chép trên bàn viết" vào ngày mai, 15-9.


Comment của anh Đặng Thành Long, Hải quân:
Cám ơn Như Thương đã cho biết một người VN được mời làm giám khảo trong hội đồng tuyển chọn giải Pulitzer, vinh dự cho người VN vì Ông là người Á Châu đầu tiên. Ông muốn đem tâm huyết, tài đức để làm phong phú hơn, đa dạng hơn cho giải thưởng văn chương này nhưng ông vẫn e ngại những khác biệt giữa người Mỹ, người Việt Nam, ngừơi Mỹ gốc Việt, như vậy ông có luồn lách trong tác phẩm "Cảm Tình Viên" của Ông?
Anh chưa được nhìn thấy cuốn sách này chứ đừng nói đã đọc chưa.
Với tựa đề "Cảm Tình Viên" làm người Thủy Thủ già ít hiểu biết như anh lại nghĩ tới một cuốn sách bốc thơm những hy sinh, gian khổ "giải phóng" một nửa đất nước không chịu tiến lên đỉnh cao.
Mấy ý nghĩ vội vàng....


.

Tuesday, September 1, 2020

RẼ NGHÌN TRÙNG DƯƠNG



RẼ NGHÌN TRÙNG DƯƠNG

Đường ngôi rẽ sợi tóc tình
Như con sóng biển rẽ nghìn trùng dương
Khi nào anh rẽ khúc thương
Nhấn giai điệu của vấn vương "Yêu người"
Để tim căng ngực gọi mời
Và gương lược mới thành lời ái ân
Gót chân son sẽ rất gần
Đi tìm anh giữa phong trần đa đoan
Trái tim chín đỏ rượu vang
Nhắp môi em cạn...thênh thang với tình
Có bao giờ biển lặng thinh
Để nghe em kể chuyện mình yêu nhau?
Kể rằng mãi đến kiếp sau
Vẫn yêu như thể nhiệm mầu kinh thơ
Trang kinh lục bát ngẩn ngơ
Tình yêu lạ quá chẳng bờ bến đâu

Như Thương


.

Chính sách Văn hóa Giáo dục - Văn kiện năm 1972




Source: Website Nam Kỳ Lục Tỉnh

.

Friday, August 21, 2020

TÌNH HỠI... MÙA ĐÔNG



TÌNH HỠI... MÙA ĐÔNG

Ôm Tình, Em đã ngủ say
Nhìn sợi tóc vướng chợt đầy vai Ta
Trăm năm đời chữ ê a
Cạn ly rượu... mở lòng ra với người
Ngày theo vạt nắng giữa trời
Đêm về tay ấm, nghe lời ái ân
Kiếp xưa giờ phút hóa thân
Ta - Em nay đã những lần bên nhau
Thời gian ôi thật nhiệm màu
Cõi nào hạnh phúc mai sau muôn trùng
Tìm trong ngôn ngữ ngại ngùng
Vô ngôn chợt đến tương phùng ngộ duyên
Nở ra xanh biếc: Em hiền
Nét cười từ đấy, môi viền đời Ta
Hôn Em mới biết thì ra...
Chữ Tình diệu vợi như là mênh mông
Người tình em hỡi ...mùa Đông
Dẫu se sắt lạnh vẫn lòng ấm môi...

Như Thương
(Viết cho chớm Đông 2020)


.

Thursday, August 20, 2020

TUYỆT TÌNH BIỂN



TUYỆT TÌNH BIỂN

Biển xưa dậy sóng trùng khơi
Hải âu biệt dạng bên trời xa xăm
Mù khơi lấp chỗ em nằm
Là mộng hay thực - sóng trầm luân em
Để từ một thuở cát mềm
Dấu chân, biển xóa êm đềm cuốn trôi
Tìm đâu tóc xõa em ngồi
Ngày qua, trăng khuyết cũng thôi yêu người
Còn chăng sóng vỗ bên đời
Tuyệt tình biển... chợt vẽ vời mua vui
Mây mù quá khứ ngậm ngùi
Hay là tiếc nuối thoáng mùi hương xưa
Ừ thì tay vẫy tiễn đưa
Còn câu lục bát vẫn chưa tròn vần..

Như Thương


.

Saturday, August 1, 2020

NHÌN LẠI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HÒA


NHÌN LẠI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HÒA - Quê Hương sưu tầm


GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM 1954-1975 TRÊN CON ĐƯỜNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN.
(Khảo cứu một học giả CSVN)
Trần Văn Chánh


Toàn văn : "Hùng Vương Ngọc Phả"


Toàn văn : "Hùng Vương Ngọc Phả" (Bản gốc)

https://drive.google.com/file/d/1W12DZtisum5qTwYclIyJpe3nuvuk9dzs/view

Hùng Vương Ngọc Phả

https://drive.google.com/file/d/1lBJBBydV2FPT52kka0oeyIsVW87BUbti/view

.

Wednesday, July 1, 2020

Tiếc nuối nền giáo dục Việt Nam Cộng Hoà



 Giáo dục Việt Nam Cộng hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa.
Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng.
Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”.
Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa gồm tiểu học, trung học, và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.

Tổng quan

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia.
Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học.
Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ.
Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc.
Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950.
Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp.
Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.
Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu.
Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.
Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.
Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục.
Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trung học, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số.
Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng).
Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục), nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.
Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam

Triết lý giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn.
Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật…

Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng” được chính thức hóa ở hội nghị này.
Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa (1967).

Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản

Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.
Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc…
Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc.
Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia.
Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc.
Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng

Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa.
Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình.
Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.
Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.
Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý.
Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức.
Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.
Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.
Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.

Giáo dục tiểu học

Bậc tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất).
Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc).
Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp”, tức học lại lớp đó.
Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.
Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều.
Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học (chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc).
Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.
Lớp 1 (trước năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn quốc văn; 2 giờ bổn phận công dân và đức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục).
Lớp 2 (trước năm 1967 gọi là lớp Tư), quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ sử ký và địa lý.
Lớp 3 trở lên thì ba môn quốc văn, công dân và sử địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần. Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông thường vào những ngày áp Tết).

Giáo dục trung học

Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).
Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petruc Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là Trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…
Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Trung học đệ nhất cấp

Trung học đệ nhất cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay.
Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ .
Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.
Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí.
Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt” (hay “học kỳ”). Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp, môn Công dân giáo dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.
Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam (tức Việt Võ đạo) cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.
Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp.
Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.

Trung học đệ nhị cấp

Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay.
Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở. Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học.
Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn vật; ban toán; ban văn chươ
ng và ban văn chương cổ ngữ, thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.
Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú tài I rồi thi Tú tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt.
Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.
Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8. Tỷ lệ đậu Tú tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%), tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi.
Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng “tối ưu” hay “ưu ban khen” (18/20 điểm trở lên), thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn Việt Nam Cộng hòa chỉ một vài em đậu hạng này, có năm không có; hạng “ưu” (16/20 điểm trở lên); “bình” (14/20); “bình thứ” (12/20), và “thứ” (10/20).
Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Petrús Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) và các trường Quốc học (Huế), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Võ Tánh (Nha Trang), Trần Hưng Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) dành cho nam sinh và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), Trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), Trường Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) chỉ dành cho nữ sinh.
Học sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.

Trung học tổng hợp

Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh: comprehensive high school) là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey, sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học.
Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống. Thời
Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình trung học tổng hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau.
Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức, sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10) và Sương Nguyệt Ánh (cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.

Trung học kỹ thuật

Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông.
Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần.
Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là tiếng Anh và tiếng Pháp.
Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đảng Kỹ Thuật Cao Thắng), Trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco (do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM

Các trường tư thục và Quốc gia Nghĩa tử
Các trường tư thục và Bồ đề

Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục.
Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học.
Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học.
Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học.
Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh.
Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo. Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466.
Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry.
Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.
Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm.
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Viêt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tên mới).

Các trường Quốc gia Nghĩa tử

Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc gia nghĩa tử.
Tuy đây là trường công lập nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng.
Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa.
Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc gia Giáo dục.
Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự.
Vì vậy trường Quốc gia nghĩa tử khác trường Thiếu sinh quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.

Giáo dục đại học

Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước.
Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.
Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình.
Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.
Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp.
Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng cử nhân (ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh…) hay bằng kỹ sư (ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…).
Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng cao học hay tiến sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: docteur de troisième cycle; tương đương thạc sĩ ngày nay).
Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng tiến sĩ (tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ).
Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.
Mô hình các cơ sở giáo dục đại học
Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng hòa được tổ chức theo mô hình viện đại học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở).
Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ (tiếng Anh: credit).
Mỗi viện đại học bao gồm nhiều phân khoa đại học (tiếng Anh: faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v…) hoặc trường hay trường đại học (tiếng Anh: school hay college; ví dụ: Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v…).
Trong mỗi phân khoa đại học hay trường đại học có các ngành (ví dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v…); về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban (tiếng Anh: department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay).
Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương.
Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.
Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội.
Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.
Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc.
Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế.
Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng: Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam).
Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.
Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập.
Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn.
Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.
Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.
Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học.
Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật.
Tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” ( Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện.
Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học” cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học.
Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các “đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học”.

Các viện đại học công lập

Viện Đại Học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học quốc gia Việt Nam (1955) – còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn.
Năm 1957, Viện Đại học Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước.
Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.
Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn.
Viện Đại Học Huế: Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa, và Y khoa.
Viện Đại Học Cần Thơ: Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa.
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức: Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972).

Các viện đại học tư thục

Viện Đại Học Đà Lạt: Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công Giáo.
Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa.
Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.
Viện Đại Học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.
Viện Đại Học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3 Tháng Hai), Quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng.
Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.
Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo.
Viện Đại Học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Cao Đài
Viện Đại Học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo hội Công Giáo điều hành.

Các học viện và viện nghiên cứu

Học Viện Quốc Gia Hành Chính: Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao.
Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2), Quận 10, Sài Gòn.
Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.
Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ… với những chuyên môn đặc biệt.

Các trường đại học cộng đồng

Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở  Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.
Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp.
Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.
Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.
Các trường kỹ thuật và huấn nghệ
Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc.
Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tương đương với cấp đại học.
Trường quốc gia Nông Lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm.
Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc, vườn cây công nghiệp, lúa thóc.
Qua từng giai đoạn Trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông lâm súc(1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972),Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974).
Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sáp nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.
Trung Tâm Kỹ Thuậc Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải.
Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.
Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia: Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.

Các trường nghệ thuật

Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ:Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa.
Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điễn Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.
Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế: Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam, dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.
Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật:thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940).
Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn: thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ (1954-1966).
Sinh viên du học ngoại quốc
Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

Nguyễn Võ Phương Nam (facebook)

.