Wednesday, April 1, 2020

Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975 (Y Nguyên Mai Trần)



Bài viết sưu khảo này dựa vào những nhận thức và kinh nghiệm của người viết sinh ra trong thập kỷ 1940s thừa hưởng môt nền giáo dục khai phóng ở miền Nam. Từ ngôi trường đơn sơ trong xóm nhỏ rồi bước sang ngưỡng cửa tiểu học, trung học, đại học trong suốt một quá trình dài 15 năm, trong mỗi giai đọan đánh dấu bằng sự xét nghiệm với những mảnh bằng hay chứng chỉ tốt nghiệp mà các cơ quan giáo dục cấp phát .Với những chứng chỉ mảnh bằng ấy những người tốt nghiệp đã tham gia vào đời sống kinh tế, cộng đồng xã hội giáo dục một cách hiệu quả và thành công.

Bài viết sẽ không đề cập chuyên sâu về lịch sử, khía cạnh chính trị, triết lý và hệ thống tổ chức của nền giáo dục miền Nam (Thời Pháp thuộc cũng như thời Việt Nam Cộng Hòa) vì những khía cạnh này đã được đề cập đến từ khá nhiều tài liệu trên mạng cũng như sách vở.

Ngày 21/12/1917 Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ký nghị định ban hành tổng quy chế nền học chính toàn cõi Đông Dương. Văn bản được xem như bộ luật giáo dục với mục tiêu thống nhất nền giáo dục bản xứ, tiến tới xóa bỏ nền giáo dục cũ.
Hệ thống Giáo Dục Pháp Cho Người Bản Xứ (Enseignement Franco-Indigène), thường được gọi là Giáo Dục Pháp-Việt được dựa vào hệ thống giáo dục của chính quốc, đã được người Pháp ở Việt Nam điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh và thực tế tại Việt Nam. Tuy tiếng Pháp vẫn dùng là chính ngữ, tiếng Việt là phụ ngữ, mục tiêu tối hậu là loại bỏ Nho học và thay thế dần bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho người bản xứ và guồng máy cai trị.

Hệ thống giáo dục mới được hình thành sau khi Pháp chiếm Nam kỳ. Với Hòa ước Giáp Tuất 1874 Nam kỳ trở thành thuộc địa Cochinchine và Hòa ước 1883-84 Patenôtres đặt Bắc kỳ -Tonkin và Trung Kỳ-AnNam dưới quyền bảo hộ. Mặc dù triều đình Nguyễn được cai trị ở Huế, nhưng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Toàn Quyền Đông Dương. Tưởng cũng xin nhắc lại Liên Bang Đông Dương-L’Indochine gồm Lào, Cao Miên và ba miền của Việt Nam, cơ sở đầu não đặt tại Hà Nội, dưới quyền của Toàn Quyền Đông Dương.

Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam kỳ tổ chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm. Từ 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn của các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Ở Bắc kỳ và Trung kỳ, dưới quy chế bảo hộ, sự thay đổi về giáo dục chậm hơn. Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc là năm Ất Mão 1915, và ở Huế năm Mậu Ngọ 1918. Tuy vậy mãi đến năm 1932 bộ máy quan lại của triều đình mới bỏ việc dùng chữ Hán và thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ.

Người viết xin ghi nhận sự đóng góp của bạn bè đồng môn khắp nơi trên thế giới. Hy vọng những tư liệu này được xem là tài liệu tham khảo quý báo cho các thế hệ sau cũng như một chút tâm tình cuả một thời vàng son trẻ tuổi dùi mài kinh sử trong những mái trường trước 1975.

Phần A: Nền Giáo Dục ở miền Nam trước năm 1954- thời Pháp thuộc

Trước năm 1954, tuy có nhiều biến chuyển theo vận nước nổi trôi, nhưng chương trình Pháp- Việt Franco-Indigènes căn bản là hệ thống giáo dục tại Việt Nam trong suốt thời kỳ Nam Kỳ thuộc địa, Trung Kỳ và Bắc Kỳ bảo hộ . Song song với chương trình này còn có chương trình chinh quốc Pháp áp dụng cho một số trường được mở ra để phục vụ người Pháp và những người có quốc tịch Pháp trong thời gian đầu. Điển hình như trường Chasseloup Laubat Sài gòn(1874),trường trung học Albert Sarraut ở Băc Kỳ (1908), Yersin ở Đà Lạt (1935). Cả 3 trường này bắt đầu cũng được hình thành từ bậc tiểu học trước rồi sau mới đến bậc Tú Tài.
Làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục Pháp-Việt-Franco-Indigène phổ thông cho người Việt, người Pháp đã cho xây dựng một số trường như trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho (1879), Collège de Cantho (1917) trường Quốc Học Huế (1896), trường trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) tức trường Bưởi Hà Nội (1908) ). Ba trường này khi mới mở chỉ có bậc tiểu học đến vài chục năm sau mới có 2 trường Quốc Học Huế và trường Bưởi giảng dạy bậc Tú Tài.

Thống Đốc  Nam Kỳ Le Myre de Vilers ̣(xem hình ̣95), người chú trọng mở mang giáo dục Pháp-Việt đã cho mở trường trung học đầu tiên và duy nhất cho cả Miền Nam vào cuối thế kỷ XIX lấy tên Collège de Mytho. Trường bắt đầu chỉ có hai năm học sau đó tăng lên bốn năm đầu thế kỷ XX được đổi tên là Collège Le Myre de Vilers.

Chương trình Pháp-Việt gồm có ba bậc học: Tiểu học, Trung học và Đại học. Ở bậc Tiểu học, lớp khởi đầu là lớp Năm hay lớp Đồng ấu (Cours Enfantin), kế đến là lớp Tư hay lớp Dự bị (Cours Préparatoire), lớp Ba hay lớp Sơ đẳng (Cours Elémentaire). Cả ba lớp này thuộc cấp Sơ học tiểu học, học xong, học sinh thi lấy bằng Sơ học Yếu lược (Certificat d’Etudes Primaire Elémentaire).

Sau cấp Sơ học là cấp Tiểu học gồm ba lớp: lớp Nhì năm thứ nhất (Cours Moyen de 1ère Année), lớp Nhì năm thứ hai (Cours Moyen de 2è Année), và lớp Nhất (Cours Supérieur). Xong lớp Nhất, học sinh thi lấy bằng Tiểu học (Certificat D’Etude Primaire Complémentaire Indochinois, viết tắt là C.E.P.C.I).

Sau bằng Tiểu học, học sinh phải học lên bốn năm nữa rồi thi bằng Cao Đẳng Tiểu học, tiếng Pháp là Diplôme d’Etudes Primaire Superieur Franco-Indigènes, còn gọi là Brevet primaires , người Việt gọi là bằng Thành Chung, bằng Diplôme.

Ai thi đậu mới được học lên bậc Trung học-còn gọi là bậc Tú Tài. Bậc này gồm ba năm, năm thứ nhất, năm thứ hai-Bac 1ere và năm thứ ba- Bac 2ème

Kể từ cuối thập niên 1920, chương trình thi bậc Tú Tài đã được Nha Học chính Đông Pháp quy định, gồm hai kỳ thi cách nhau một năm, kỳ thi lấy bằng Tú Tài I hay Tú Tài bán phần (Baccalauréat Première Partie) và kỳ thi Tú Tài II hay Tú Tài toàn phần (Baccalauréat Deuxième Partie, gọi tắt là Bac). Người dự thi Tú Tài toàn phần bắt buộc phải có bằng Tú tài bán phần

Tú Tài toàn phần –Pháp-Việt còn gọi là Certificat de Fin d’Etudes Secondaire Franco-indigènes
Tú Tài toàn phần Pháp chính thống còn có tên là Diplôme du Baccalaureat de l’enseignement du second degré.

Hình 1: Bằng cấp, chứng chỉ thời Pháp-trước 1954.

Với việc cải cách giáo dục, việc đưa chữ quốc ngữ vào tiểu học đã giúp trẻ nhanh chóng biết đọc, biết viết so với việc học chữ Hán khó nhớ. Chương trình học bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Bên cạnh các trường phổ thông, Pháp còn lập ra trường dạy nghề để học sinh khi học xong tiểu học có thể chọn học nghề.

Thời kỳ 1945-1955, tình hình giáo dục rất phức tạp. Pháp vẫn chỉ đạo nền giáo dục tại Nam Kỳ, nhưng giữa Pháp và các nước liên hiệp Đông Dương cũng đã ký hiệp ước chuyển giao các cơ quan giáo dục và văn hóa từ năm 1949. Đa số các trường đại học, cao đẳng Pháp thành lập, đặt tại Hà Nội cho toàn các xứ Đông Dương, được dời vào miền Nam sau hiệp định Genève 1954.

Đặc biệt tại Saigon, hai trường trung học theo chương trình Pháp-Việt đầu tiên được thành lập là trường Áo Tím-Gia Long và trường Petrus Trương Vĩnh Ký.

Trường L’école des Jeunes Filles Indigènes)  Áo Tím –Gia Long  xây dựng xong năm 1915 được Toàn Quyền Ðông Dương Ernest Nestor Roume  và Thống Ðốc Nam Kỳ Courbeil cắt băng khánh thành và khai giảng khóa đầu tiên. Trường dạy hai cấp. Sơ học và Tiểu học. Cuối năm Sơ học, học sinh phải thi lấy chứng chỉ Sơ học yếu lược ( Certficat d’Etudes Primaires Elementaires Franco-Indigènes), sau đó học thêm ba năm thi bằng Tiểu học yếu lược . CEPCI (tức Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise). Năm đầu tiên chỉ có 42 nữ học sinh trong bộ đồng phục áo dài tím. Tên trường Áo Tím bắt đầu từ đó.

Ðến tháng 9 năm 1922, trường được nâng lên cấp Cao đẳng tiểu học (tương đương với bậc Trung Học Ðệ Nhứt Cấp sau này). Toàn Quyền Albert Sarraut khai giảng lớp đầu tiên của bậc Cao đẳng tiểu học và đổi tên trường là Collège des Jeunes Filles Indigènes .
Thời Nhật trở lại Đông Dương, năm 1940, trường đổi tên thành trường trung học Gia Long. Tên trường tồn tại mãi đến sau năm 1975 với tên mới Nguyễn thị Minh Khai.

Hình 2: Trường Gia Long, Trường Petrus Ký.

Thống Đốc Nam Kỳ B.de La Brosse ký nghị định 18-12-1927 thành lập trường trung học Pháp Việt mang tên “Petrus Ký trung-học đường”.
Tiền thân của trường Petrus Ký có tên là Collège de Cochinchine (một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat (hiện nay là Lê Quý Đôn), dành cho học sinh người Việt Nam
Ngày 11-8-1928, khi trường mới xây dựng xong ở vị thế ngày nay, trường khởi đầu chỉ dạy bậc Cao đẳng tiểu học, mang tên Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký-Petrus  Ký trung học đường- khai giảng năm học đầu tiên tháng 9, 1927-1928 với 4 lớp học với hơn 200 học sinh chuyển qua theo học chương trình Pháp và Pháp Việt từ trường Collège de Cochinchine (Ngoại trưởng và Chủ Tịch Thượng Viên VNCH Trần Văn Lắm là một trong những học sinh khóa đầu tiên 1927-1928. Ông mất tại Canberra Úc năm 2001). Vào năm 1953, trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký là ngôi trường trung học công lập duy nhứt của Sài Gòn dành cho nam sinh, dạy về văn hóa của chương trình Trung học Việt Nam.

Nếu đứng ngay trước cổng chánh trên đại lộ Cộng Hòa, hiện nay là đường Nguyễn Văn Cừ vẫn còn cổng xây dựng bằng gạch kiên cố với 2 cột cao độ 4m trên có khắc 2 câu chữ Hán “Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt, Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm.” Phía trên có khắc tên “Trường Trung Học Petrus Ký.”. Sau 1975, trường có tên Lê hồng phong.

Bằng cấp chương trình chính quốc Pháp

Chương trình giáo dục Pháp chính quốc được áp dụng cho các trường dạy học trò người Pháp và những người có quốc tịch Pháp.

Hình 3: Bằng Tiểu học yếu lược (Tiểu học) chương trình Pháp-Certificat d’études primaires élémentaires” (CEPE) –cấp cho cô học trò người Pháp Colette Parlet  ở Cái Bè, Nam Kỳ, bằng cấp chính quốc Pháp của Département du Var –Academie D’Aix.

Bằng cấp chương trình Pháp-Việt Franco-Indigènes

Thời này những người tốt nghiệp với bằng Tiểu Học được xem có học thức khá, nói tiếng Pháp khá thông thạo, thường làm ”thầy thông thầy ký” .Những người có bằng Cao Đẳng Tiểu học được xem có trình độ học thức cao, thường đãm nhiệm những vai trò quan trọng trong cơ sở Pháp Việt.

A1-Bậc Tiểu học-Cao đẳng Tiểu Học

Hình 4: Văn bằng Tiểu Học cấp ở Nam Kỳ thuộc địa Cochinchine 1933
https://musee-ecole-montceau-71.blogspot.com/2019/03/lecole-dans-lalgerie-francaise.html

Hình 5: Văn bằng Tiểu Học cấp ở Bắc Kỳ Bảo Hộ -Protectorat du Tonkin 1929

Hinh 6M Bang cap tieu hoc Bao Ho ha noi
Hình 6: Văn Bằng Tiểu Học cấp ở Bắc Kỳ Bảo Hộ -Protectorat du Tonkin 1934

Hinh 7M Bang Phap
Hình 7.Bằng Sơ Đẳng Tiểu Học hay Tiểu Học Yếu Lược 1915-Certificat d’Etudes Primaires –Franco Indigènes cấp thời Đông Pháp
Liên Bang Đông Dương-Bắc Kỳ Bảo Hộ (Protectorat du Tonkin).
Đây không phải là bằng Sơ Học Yếu Lược-Certficat d’Etudes Primaires Elementaires Franco-indigènes

Hinh 8m Bang tieu hoc cua tran van tuyen
Hình 8: Văn bằng Tiểu học yếu lược bản xứ Certificat d’Etudes Primaires –Franco Indigènes thời Đông Pháp –cấp bởi Thủ Hiến Trung Kỳ Bảo Hộ
(Protectorat de L’Annam)

Hinh 9M CEPCI tieu hoc Phap
Hình 9: Bằng cấp tiểu học bổ túc cấp bởi bộ trưởng Giáo Dục của Chính Phủ Đại Nam dưới thời vua Bảo Đại năm 1939. Bằng này đòi hỏi người tốt nghiệp học thêm một năm sau khi có bằng Tiểu Học ̣để đi dạy học hoặc đm nhiệm trọng trách cao hơn.

Hinh 10M certificat d'etudes primaire complimentaire indochinoise
Hình 10: .Văn bằng Tiểu Học bổ túc cấp  ở Nam Kỳ thuộc địa Cochinchine 1940s

A2-Bậc Trung Học

Hình 11:. Bằng Diplôme-còn gọi là Brevet primaires-
Người Việt gọi là bằng Thành Chung. Bằng này cấp cho học sinh người Pháp ở Pháp.

hinh 12M Diplome D.erudes complementaires F-ranco -indegenes-Thanh chung Diploe
Hình 12. Văn bằng Diplôme D’Etudes Complimentaires-Franco-Indigènes- tương đương bằng Brevet-Thành Chung -cấp cho học sinh theo hệ thống Giáo Dục Pháp Việt
thời Liên Bang Đông Dương 1919.

hinh 13M Bang thanh chung 1923
Hình 13: Văn bằng Diplôme D’Etudes Complimentaires-Franco-Indigènes- tương đương bằng Brevet-Thành Chung -cấp cho học sinh theo hệ thống  giáo dục Pháp Việt thời Liên Bang Đông Dương 1923

hinh 14M Diplome d'etudes primaires superieur -Jan 1945
Hình 14: Diplôme D’etudes Primaires Superieures-Cao đẳng Tiểu Học, còn gọi là bằng Thành Chung.
Văn bằng cuối cùng này cấp bởi Toàn Quyền Đông Dương ngày 31/5/1945 sau khi Nhật chiếm Đông Dương ngày 9 Tháng Ba 1945

hinh 15M Diplome du baccalaureat academie de rennes
Hinh 15: Mẫu bằng Tú Tài II chương trinh Pháp cấp bởi Academie de Rennes cho học sinh tốt nghiệp các trường như Lê Quý Đôn, Marie Curie, Saigon

A3-Bậc Đại học thời Pháp Thuộc
Hinh 16M
Hình 16: Bằng tốt nghiệp Đại học Khoa học Ứng dụng chuyên ngành Công Chánh do Chính phủ Đông Dương cấp năm 1926. Người được cấp bằng này đã theo học ở trường Cao Đẳng École des Sciences Appliquées Hà Nội

Hinh 17M
Hình 17: Văn Bằng tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương, Hà Nội 1928


Phần B. Hệ thống giáo dục thời Quốc Gia Việt Nam và thời Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1955

Quốc gia Việt Nam là một chính phủ thuộc Liên bang Đông Dương Pháp, tuyên bố chủ quyền toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, tồn tại trong giai đoạn từ giữa năm 1948 đến 1955. Thủ đô đặt tại Sài Gòn.

hinh 18M
Hình 18. Bằng cấp Sơ Đẳng Tiểu Học-Bằng Tiểu Học (Certificat d’Etudes Primaires Franco-Indigenes) dưới thời thủ tướng Nam Việt Trần Văn Hữu 1951.

Người tốt nghiệp có thể làm thầy thông, thầy ký rồi, nếu học thêm 4 năm nữa thì có thể dự thi bằng Cao Đẳng Tiểu Học tương đương với bằng Thành Chung hay Trung Học đệ nhất cấp.


hinh 19M
Hình 19: Bằng Tiểu Học do Nha Học Chính Nam Việt cấp 1952

Sau hiệp định Genève 20/7/1954, người Pháp trả lại độc lập cho toàn Việt Nam. Miền Nam và một nửa Trung Kỳ từ vĩ tuyến thứ 17 trở về Nam, được giao cho chính phủ Quốc Gia với quốc trưởng Bảo Đại lảnh đạo, sau đó Đệ nhất Cộng hòa ra đời 1955 với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chương trình giáo dục VNCH dưạ trên chương trình Pháp Việt để lại, cũng gồm ba bậc Tiểu học: 5 năm, gồm lớp năm, tư, ba, nhì và nhất. Cuối lớp nhât có kỳ thi lấy bằng tiểu học

Trung học: 7 năm gồm hai cấp Trung học Đệ Nhất Cấp gồm các lớp Đệ Thất, Lục, Ngũ và Tứ, cuối năm Đệ Tứ thi Bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Kỳ thi này học sinh phải đậu cả phần thi viết và vấn đáp. Tuy nhiên phần thi vấn đáp được loại bỏ 1959-60 và kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp được bỏ hẳn 1966-67.

Trung học Đệ Nhị Cấp gồm ba lớp Đệ Tam, Nhị và Nhất. Cuối lớp Đệ Nhị phải qua kỳ thi Tú Tài I học sinh phải đỗ Tú Tài I mới được tiếp tục lên đệ Nhất để thi Tú Tài II. Kể từ năm 1973 trở kỳ thi Tú tài I được bải bỏ, chỉ còn phải thi tú tài II gọi là Tú Tài toàn phần phổ thông bằng hình thức thi trắc nghiệm và được chấm thi bằng máy điện toán IBM

Đại Học: Người có bằng Tú Tài II được ghi tên theo học hoặc thi tuyển vào các phân khoa thuộc Viện Đại học, các trường Cao Đẳng và Chuyên nghiệp như Hoc Viện Quôc Gia Hành Chánh, Trường Vỏ Bị Liên Quân Đà Lạt…
Một điểm đáng chú ý trong giai đoạn chuyển tiếp của chương trình giáo dục Pháp Việt trước 1954 và chương trình Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa, cuối năm Tiểu học, xong lớp Năm học sinh không đậu thi tuyển vào ngay lớp Đệ Thất trường công Trung Học miển phí, có thể học trường tư hoặc trải qua một lớp trung gian là lớp Tiếp liên (Cours Certifié) để năm sau thi lại có cơ hội tốt

B1. Tiểu Học

Hinh 20M
Hình 20: Học trò lớp Tư 1954 trường Chi Lăng trên đường Chi Lăng-gần trường Vẽ Trang trí Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định

Hinh 21M
Hình 21: Bằng cấp Tiểu học thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa 1960 cấp cho học sinh
 tốt nghiệp trường tiểu học.

B2-Trung Học Đệ Nhất Cấp

Trung học đệ nhất cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ). Học sinh muốn vào đệ Thất trường trung học công lập phải qua kỳ thi tuyển khó khăn, nếu không phải vào hệ thống trường tư phải trả học phi.
Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp (tiếng Pháp: brevet d’etudes du premier cycle). Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp (xem hình 24). Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966–67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.

Hinh 22M
Hình 22: Bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp 1960



Hình 23:Chứng chỉ Trung Học Đệ Nhất Cấp 1963

hinh 24M
Hình 24.Chương Trình môn thi Viết và Vấn đáp cho bằng Trung Học Đệ Nhất cấp

hinh 25M chung chi trung hoc de nhat cap
Hình 25: Chứng chỉ cuối cùng Trung Học Đệ Nhất cấp 1967
sau đó kỳ thi này được bãi bỏ.

B3 Trung học Đệ Nhị Cấp -Bậc Tú Tài

Chương trinh Tú tài gồm ba năm học đệ Tam, Nhị, Nhất. Cuối năm đệ Nhị thi Tú Tài I, phải đậu Tú Tài I mới được tiếp tục lên đệ Nhất để thi Tú Tài II. Tú Tài I được bãi bỏ năm 1973.
Vào đầu thập niên 1960 ngoài phần thi viết còn có phần thi vấn đáp. Phần vấn đáp này được bãi bỏ kể từ năm 1968.
Cũng nên biết Tú Tài phổ thông, học sinh có thẻ chọn Ban. Ban A cho khoa học thực nghiệm, Ban B thiên về Toán + Lý Hóa, Ban C về Văn Chương và ban D về Cổ Ngữ.
Song song với bằng Tú Tài phổ thông, còn có bằng Tú Tài Kỹ Thuật (xem hình 34), cho học sinh thuộc hệ thống trường chuyên nghiệp kỹ thuật, điển hình như trường Kỹ Thuật Cao Thắng, Nguyễn Trường Tộ ở Sài Gòn, le Bac- Baccalaureat Tú Tài Pháp (cho học sinh chương trình Pháp như các trường Lê Quý Đôn, Taberd… ) bằng cấp do cơ quan giáo dục Pháp cấp. Học sinh chương trình Pháp có thể tham dự kỳ thi Tú Tài phổ thông như học sinh hệ Tú Tài phổ thông. Thời gian học của các hệ Tú Tài là 3 năm.

Hình 26: Tiền thân của trường Kỹ thuật Cao Thắng- đường Đỗ Hữu Vị-
Huỳnh Thúc Kháng (hình bên phải) và trường Nguyễn Tường Tộ-đường Hồng Thập Tự

hinh 27m chung chi tu tai phan I
Hình 27.Chứng chỉ Tú Tài I ban A thời Đệ Nhị Cộng Hòa 1972

Hình 28: Chứng chỉ Tú Tài I ban C thời Đệ Nhị Cộng Hòa 1966


Hình 29: Chứng chỉ Tú Tài II Ban B dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa 1959


Hình 30: Chứng chỉ Tú Tài II ban C, D thời Đệ Nhất Cộng Hòa 1962


hinh 31m tu tai ii nguyen van cua
Hình 31.Chứng chỉ Tú Tài Hai ban A, 1971.

Hình 32: Chứng chỉ Tú Tài Phần Hai-Ban A qua cuộc thi trắc nghiệm bằng Công Nghệ IBM 1972

Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển…
Ngoài chương trình giáo dục phổ thông, còn có chương trình gíáo dục chuyên nghiệp, điển hình là học sinh có thể theo học và được cấp những chứng chỉ như sau:
Hinh 33m TU Tai2 Duong Nhien Quy
Hình 33: Chứng chỉ Tú Tài II đặc biệt cấp trong kỳ thi đua Trung Học toàn quốc,
ngành Địa Lý, hạng Đương Nhiên 1966

Người được cấp chứng chỉ này đoạt giải nhất trong cuộc thi đua Trung Học Toàn Quốc VNCH về môn Địa Lý năm 1966. Ḥạng Đương Nhiên được xem như giữa hạng Bình và Ưu của Tú Tai Hai phổ thông.

Hình 34: Bằng Tú Tài II Kỹ thuật, ngành Công Nghệ 1972

XIN BẤM "READ MORE" ĐỂ ĐỌC TIẾP

B4. Bậc Đại Học–Cao Đẳng

Hình 35: Cơ sở trường Y Dược trở thành Đại Học Đông Dương 1906

Trường Y khoa Đông Dương được thành lập năm 1902, sau do sự phát triển giáo dục, chính trị trường trở thành Đại học Đông Dương 1906. Sau hiệp định Genève 1954, các cơ sở đại học, chuyên nghiệp thành lập dưới thời Liên Bang Đông Dương ở Hà Nội được di dời vào Nam.

Trước 1975 VNCH có 8 viện Đại Học. Ba viện Đại học công lập Viện Đại học Sài Gòn và Viện Đại học Huế và Viện Đại học Cần Thơ và 5 viện Đại Học tư , Viện Đại Học Đà Lạt, Đà Lạt của giáo hội Công giáo, viện Đại Học Hòa Hảo Long Xuyên, An Giang, Phật Giáo Hòa Hảo , Viện Đại học Vạn Hạnh Saigon Giao Hoi Phật Giáo VN Thống Nhất, Viện Đại Học Minh Đức Gia Định, Giáo Hội Công Giao) . Viện Đại học Sài Gòn lớn và quy mô nhất, có uy tín nhất trong và ngoài nước.

Viện Đai học Saigon (tọa lạc Công trường Chiến sỉ- Hồ Con Rùa, xem hình 57) bao gồm nhiều phân khoa khác nhau: như Đại học Khoa học (Khoa học Đại học đường), Đại học Kiến trúc, Đại học Luật khoa, Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa, Đại học Y khoa, Đại học Dược khoa, Đại học Nha khoa. Ngoài các phân khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn, còn có trung tâm, học viện chuyên nghề như Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (tiền thân là trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc) đào tạo kỹ sư cho các ngành Nông Nghiệp, Lâm Sản, Chăn nuôi và Thú Y. Năm 1972 trung tâm đổi thành Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp. Học viện Quốc gia Hành Chánh trực thuộc Phủ Tổng thống sau trở thành trường Quốc Gia Hành Chánh, chuyên đào tạo các viên chức hành chánh trung, cao cấp, và Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (Phú Thọ) đào tạo các kỹ sư, cán sự, công chánh, địa chánh, công nghệ, điện lực, hóa học và chuyên viên hàng hải, thương mại

Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học và học viện trong nước.
Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia Nông Nghiệp, Quốc Gia Hành chánh và Sư Phạm.

B4A-Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ

Trường Cao đẳng Công chánh liên bang Đông dương được thành lập năm 1911 tại Hà Nội, hoạt động liên tục đến năm 1945 thì tạm ngừng. Đến năm 1947 Trường được tái lập tại Sài Gòn và đặt trụ sở tại Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ, tọa lạc số 48 Phan Đình Phùng 1957, Giám Đốc là Kỹ Sư Trần Văn Bạch. Cũng nên biết thêm Kỹ Sư Bạch tốt nghiệp khóa 1935 của École National des Ponts et Chaussées de Paris và được mời về làm Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải trong nội các ngày 6 tháng 7, 1954 của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Ông là một người rất nhân từ, khiêm tốn, ông cho nhiều học sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp tại Sàigòn, được phép vào trú ngụ trong mấy cái xưởng không dùng đến. Vì sự quan tâm đặc biệt về tình trạng Giáo dục Kỹ Thuật  thực tế ở Miền Nam, ông rời bỏ chức vụ Tổng Trưởng để đãm nhiệm chức vụ Giám Đôc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, tiền thân của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ -Chẳng những là Giám Đốc các trường Cao Đẳng , ông còn là Giáo Sư thỉnh giảng của trường Đại học Khoa Học, Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc…Hầu hết các sinh viên ngành Khoa học, Kỹ thuật đều là học trò của ông. Kỹ sư Trần Văn Bạch, một nhà giáo dục tận tâm, đã đóng góp to lớn cho nền giáo dục miền Nam nói riêng, và Việt Nam nói chung. Ông sinh năm 1910, mất 1975.

Năm 1957, trường được chuyển về Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật được thành lập do Sắc Lệnh năm 1957 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục.  Địa điểm của Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật  trước 1975 nằm ở  góc đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành. Từ năm 1974 Trung Tâm trở thành một bộ phận của Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức .

Trong khuôn viên Trung Tâm gồm các Trường Cao Đẳng Chuyên Nghiệp, trường Hàng Hải, trường quốc gia thương mại trung cấp. Muốn nhập học phải có Tú Tài 2 ban A hoặc B qua một kỳ thi tuyển gắt gao, thời gian học cho Kỹ Sư từ 4 đến 5 năm tùy theo ngành, ban Cán Sự 2 năm. Trong khuôn viên Trung Tâm gồm:
Trường Cao Đẳng Công Chánh: đào tạo Kỹ Sư Cầu Cống, Cán Sự Công Chánh, Địa Chánh.
Trường Cao Đẳng Điện Học (được thành lập năm 1957): đào tạo Kỹ Sư Điện, Cán Sự Điện, Điện Tử.
Trường Kỹ Sư Công Nghệ: thành lập năm 1956, đào tạo Kỹ Sư Công Nghiệp.
Trường Cao Đẳng Hóa Học: đào tạo Kỹ Sư Hóa Học 1968, Cán Sự Hóa Học 1962.
Trường Việt Nam Hàng Hải: được thành lập năm 1951, được sát nhập vào Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật năm 1957 đào tạo Thuyền Trưởng Viễn Duyên, Sĩ Quan Cơ Khí Hàng Hải.
Trường Quốc Gia Thương Mãi Bách Khoa Trung Cấp: đào tạo chuyên viên thương mại, kế toán
hoc vien quoc gia ky thuat
Hình 36: Huy hiệu Trung tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ-Sài Gòn

HỌC VIỆN QUỐC GIA KỸ THUẬT (1972 – 1975)

Theo sắc lệnh số 135SL/GD ngày 15/9/1972 của chính quyền VNCH, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật được đổi tên là Học viện Quốc gia Kỹ thuật (HVQGKT) gồm sáu trường thành viên: trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản, trường Cao đẳng Công chánh,trường Cao đẳng Công nghệ (Quốc gia Kỹ sư Công nghệ), trường Cao đẳng Điện học,trường Cao đẳng Hóa học, trường Cao đẳng Hàng hải (Việt Nam Hàng hải).

Đáng chú ý, trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản được thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để hỗ trợ cho năm trường cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản có nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên năm thứ nhất các kiến thức về kỹ thuật khoa học để sinh viên có thể theo các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại năm trường cao đẳng còn lại). Học sinh có bằng tú tài 2, ban B, hoặc tú tài của trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp được thi tuyển, nếu đậu sẽ học năm thứ nhất tại trường này

Hình 37: Cổng trước Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phủ Thọ đường Lý Thường Kiệt

B4A1-Trường Cao Đẳng Công Chánh

Đến 1945, khi quân đội Nhật đảo chính Pháp, trường Cao đẳng Công Chính của Liên Bang Đông Dương tại Hà Nội phải đóng cửa.
Tháng 7 năm 1947, Trường Cao đẳng Công Chính cũng được tái lập tại Sài Gòn và chỉ dành cho Ban Trung Đẳng. Đến năm 1950, chính phủ Pháp chuyển giao trường lại cho chính quyền Quốc gia Việt Nam, năm 1957, ông Trần Văn Bạch tốt nghiệp trường Ecole nationale des ponts et chaussées Paris được cử giữ chức Giám đốc trường và trường được đổi tên thành Trường Cao đẳng Công Chính Việt Nam

1956-1957, trường chuyển dời và sau đó trực thuộc Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ cùng với các trường Cao đẳng Điện, Công nghệ Hoá Học và Hàng Hải. Khoá Kỹ Sư Công Chính cuối cùng thuộc quy chế cũ tốt nghiệp năm 1961 và khoá Cán Sự Công Chính tốt nghiệp năm 1960.

Sau khi trực thuộc Trung tâm, trường đào tạo 2 ban là Ban Cán Sự và Ban Kỹ Sư.
Đối với Ban Kỹ Sư, kể từ năm 1958, trường chỉ nhận những thí sinh có bằng tú tài toàn phần Toán hay Kỹ thuật vào thi, chương trình học trong 4 năm, sinh viên tốt nghiệp được cấp Văn Bằng Kỹ Sư Công Chính hay Địa Chính.

Ban Cán Sự có những thay đổi đáng kể, ban đầu (1957) thí sinh thi vào học phải có văn bằng tốt nghiệp Trung học Phổ Thông hay Kỹ thuật và có chứng chỉ học lớp Đệ Tam. Thời gian học là 3 năm, và 3 tháng hè phải đi tập sự tại các Nha, Sở hay Ty Công Chính địa phương. Thi tốt nghiệp phải đạt trung bình hơn 12 điểm mới được cấp phát văn bằng “Cán Sự Công Chánh” hay “Cán Sự Địa Phương”. Năm 1967, do kỹ thi Trung học Đệ Nhất Cấp bị bãi bỏ nên thí sinh phải có chứng chỉ Tú Tài I mới được vào thi, chương trình học rút lại còn 2 năm. Đến năm 1973, kỳ thi Tú Tài I bãi bỏ, chỉ còn bằng Tú Tài II nên các thí sinh cũng phải có bằng Tú Tài II mới được dự thi với chương trình học kéo dài 2 năm.


Hinh 38: Trường Cao Đẳng Công Chánh

Hình 39: Bằng Kỹ Sư Công Chánh 1961 thời Đệ Nhất Cộng Hòa-Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ Saigon

hinh 40m bang ky6 su cong chanh1954-56
Hình 40: Bằng Kỹ Sư Công Chánh thời Quốc Gia Việt Nam 1949-1955

Hinh 41m
Hình 41. Cán Sự Công Chánh Đông Dương 1934


B4A2-Trường Cao Đẳng Điện Học.

Hình 42: Trường Cao Đẳng Điện Học

B4A3-Trường Kỹ Sư Công Nghệ 

Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ được thành lập năm 1956 trực thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật, Bộ Giáo Dục, Việt Nam Cộng Hòa. Đến năm 1973, sau nhiều lần cải tổ cho phù hợp với tiến trình canh tân kỹ nghệ quốc gia, trường được đổi tên là Cao Đẳng Công Nghệ vẫn thuộc Trung Tâm bấy giờ đã đổi thành Viện Đại Học Kỹ Thuật. Trung Tâm thường được dân chúng gọi là trường Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ vì tọa lạc tại Phú Thọ – một địa điểm  phía Tây Bắc cách Sài Gòn khoảng 10 km. Trường bắt đầu với khóa 01 cho đến Khóa 19, khóa cuối cùng nhập học năm 1974.
Học sinh dự thi tuyển khó khăn vào ban Kỹ Sư phải có bằng Tú Tài  ban A hay B. Sau 4 năm tốt nghiệp sẽ được cấp bằng Kỹ Sư Công Nghệ. Trường đào tạo các kỹ sư công nghệ các ngành cơ khí, kỹ nghệ sắt, luyện kim, xe hơi ô tô…
Sau biến cố lịch sử 30-4-1975, cùng chung một số phận của miền Nam, trường Kỹ Sư Công Nghệ, đã bị xóa tên và tiếp thu bởi Khoa Cơ Khí thuộc Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Trường đã góp phần rất lớn cho đất nước trong việc đào tạo kỹ sư chuyên viên và quản trị cho nền công nghiệp cũng như các cơ quan kỹ thuật. Khắp nơi, từ nhà máy điện, đường, giấy vải, xi măng… cho đến các cơ quan hành chánh, giáo dục và quân sự, đều có sự hiện diện của Kỹ sư công nghệ.

Hình 43 Trường Cao Đẳng Công Nghệ và trường Hàng Hải

Hình 44. Trường Cao Đẳng-Công Nghệ-Ban Cơ Khí

B4A4 Trường Hàng Hải.


Hình 45: Huy hiệu trường Việt Nam Hàng Hải

Trường Hàng Hải được chính thức thành lập vào năm 1951, do nghị định số 155-Cab/SG ngày 27-12-1948.
Đầu tiên trường tọa lạc tại khu Hỏa Xa đường Phạm Ngũ Lão với danh hiệu: Việt Nam Hàng Hải Học Liệu. Sau một thời gian được dời đến khuôn viên trường Pétrus Ký, giữa Đại học Sư Phạm và trường Pétrus Ký. Đến năm 1957, Trường được xác nhập vào Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật do sắc lệnh số 213 GD ngày 26-09-1957 của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, dời về Phú Thọ trong khu vực các trường kỹ thuật với danh hiệu: Trường Việt Nam Hàng Hải
Trường Việt Nam Hàng Hải chỉ đào tạo:
– Thuyền Trưởng Viễn Duyên (Grand Cabotage),
– Thuyền Trưởng Cận Duyên (Petit Cabotage),
– Sĩ Quan Cơ Khí Hạng nhất,
– Sĩ Quan Cơ Khí Hạng nhì.

Hàng năm thí sinh dự kỳ thi tuyển rất đông; như năm 1971, khoảng 1200 thí sinh cho ban Chỉ huy và 950 cho ban Cơ khí. Từ trước đến nay trường chọn mỗi ban khoảng 23 người trúng tuyển vào năm thứ nhất. Muốn dự kỳ thi tuyển vào trường, thí sinh phải có văn bằng Tú tài phổ thông (Ban B) hay kỹ thuật trở lên.

B4A5-Trường Cao Đẳng Hóa học

Năm 1962, trường Cao đẳng Hóa học được thành lập đào tạo các cán sự hóa học, thí sinh dự thi tuyển chỉ cần bằng Tú Tài 1 trở lên. Từ năm 1968 trường bắt đầu cho thi tuyển sinh viên kỹ sư Hóa học. Thí sinh phải có bằng Tú tài 2, ban B hay Kỹ Thuật . Sau 4 năm, sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng Kỹ Sư Hóa Học.
Mục đ́ich của trường nhằm đào tạo chuyên viên trung và cao cấp cho sự phát triển và sự sáng tạo của Kỹ Nghệ Việt Nam.
Hỗ trợ và cung ứng nhu cầu cần thiết cho cuộc sống hàng ngày: Giấy , Sơn, Thuỷ Tinh, Xi măng, Diêm quẹt
Hỗ trợ hoat động sản xuất căn bản Canh Nông, Kỹ Nghệ Biến Chế kim loại, Kỹ Nghê Dệt, Kỹ Nghệ Dược Phẩm, Thực Phẩm
Hỗ trợ và phát triển các khu Công Nghệ như Khu Biên Hoà, An hòa, Nông Sơn, Phong Dinh, Cam Ranh, Nhà Bè Nha Trang
Phần đông sinh viên tốt nghiệp ra trường đảm nhận chức vụ quan trọng của những công ty nổi tiếng như:
-Công ty Giâý COGIDO -Tân Mai
-Công ty Xi măng H̀à Tiên
-Mỏ than Nông Sơn
-Công Ty Đường Việt Nam
-Các công ty dệt, nhuộm
-Viện bào chế Y Dược
-Trung tâm Khuếch trương Kỹ Nghệ
-Bộ Kinh Tế, Canh nông
-Sàigòn Thuỷ Cục …

Hình 46: Cao Đẳng Hóa Học



B4A6-Trường Quốc Gia Thương Mại

Trường Quốc-Gia Thương-Mại (Ecole Nationale De Commerce de Saigon) được thành lập vào giữa tháng 5 năm 1956 tại Sài Gòn. Trong thời điểm này, nhiều quốc gia trong khối Đông-Nam-Á, kể cả Việt Nam, vẫn chưa hề có một hệ-thống giáo-dục về Thương-Mại. Vì là trường dạy về Thương-Mại duy nhất trên toàn quốc nên đã được đặt tên là Trường Quốc-Gia Thương-Mại (QGTM).

Trường có mục đích đào tạo các sinh-viên thành những chuyên-viên có kiến-thức về hành-chính, tài-chính, quan thuế, thuế vu, ngân hàng…để đảm-nhiệm những chức-vụ quan trọng cho nhà nước, và các doanh-nghiệp thương-mại. Trường QGTM được tổ chức dựa theo khuôn khổ của Institut d’Enseignement Commercial – Université de Grenobe tại Pháp, với các môn học chính.

Khởi đầu, Trường QGTM có trụ sở tại số 2 Phạm Đăng Hưng – Đakao, trong khuôn viên Nha Kỹ-Thuật Học-Vụ. Cuối năm 1965, trường được dọn về trụ sở mới tại số 268 đường Nguyễn Văn Thoại, nằm trong khuôn viên của Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ.
Bắt đầu từ niên-khóa 1973-1974, Trường Quốc-Gia Thương-Mại trở thành Khoa Thương-Mại – Trường Đại-Học Chuyên-Nghiệp Trung-Cấp thuộc Viện Đại Học Sài Gòn (chương-trình được phỏng theo hệ thống Junior College của Hoa-Kỳ). Thí sinh có bằng Tú Tài toàn phần phải qua một cuộc thi tuyển gồm các môn Toán-Lý-Hóa và Kiến-thức phổ-thông để thành sinh viên khóa Thương-Mại.

Truong Quốc Gia Thương Mại
Hình 47:  Trường Quốc Gia Thương Mại

B4A7-Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật thành lập do Nghị Định số 1082/GD ngày 05/10/1962 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trực thuộc nha Kỹ Thuật và chuyên nghiệp học vụ, trụ sở ở Thủ Đức, trường đào tạo các giáo chức dạy các môn kỹ thuật cho các trường Sư Phạm Kỹ Thuật Trung Cấp. Trường có các ngành về Khoa Học Ứng Dụng, Khoa Học Chuyên Nghiệp, Kỹ Nghệ Họa, Thương Mại, Tiểu Công Nghệ. Đến niên khóa 1973-1974 trường được kết hợp với một số trường Cao Đẳng của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ để trở thành Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức dưới sự điều khiển trực tiếp của Bộ Văn Hóa Giáo Dục.

Hình 48: Chứng chỉ tốt nghiệp Giáo sư Chuyên nghiệp cao cấp 1973

B4B-Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp

Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp là hậu thân của Trường Chuyên Nghiệp Nông Lâm Đông Dương (École Spécial d’Agriculture et de Sylviculture) tại Hà Nội do nghị định ngày 15/08/1938 của Toàn Quyền Đông Dương. Sau 1954 trường dời vào Nam.

Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao được thành lập theo nghị định 112 BCN/NĐ ngày 19 tháng 11 năm 1955. Trường đào tạo ba ngành Nông Lâm Súc. Trường gồm một cấp Cao đẳng đào tạo các kỹ sư dành cho các sinh viên đã học hết chương trình trung học thời gian học lúc đầu là 3 năm, sau này là 4 năm và cấp Trung đẳng đào tạo các kiểm sự dành cho các học sinh đã đậu bằng Trung học đệ nhất cấp, Trung học phổ thông hoặc học lực tương đương. Thời gian học là 3 năm.

Trường trực thuộc Nha Học vụ Kỹ thuật và Thực hành Canh nông, Bộ Canh Nông. Khóa đầu tiên cấp Trung đẳng được khai giảng vào ngày 12 tháng 12 năm 1955 và khoá đầu tiên cấp Cao đẳng được khai giảng vào ngày thứ hai tuần lễ đầu tiên tháng 11 năm 1959 và đã bế giảng vào ngày thứ bảy tuần lễ đầu tiên tháng 11 năm 1962.

Nghị định 1361/BCTNT/NĐ/HC-2 ngày 26-3-1962 của Bộ Cải Tiến Nông Thôn đã chuyển giao nhiệm vụ và cơ sở Học vụ Kỹ thuật Canh nông và các trường trực thuộc về Bộ Quốc Gia Giáo Dục

Theo nghị định 1184/GD/TC ngày 24-8-1963 cấp Cao đẳng Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục được cải biến thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn và do một giám đốc điều khiển, trực thuộc Nha Học vụ Nông Lâm Súc. Cũng theo nghị định này, kể từ niên học 1963-1964 thời hạn học tại Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc được ấn định là 4 năm. Thi sinh phải có bằng Tú Tài II ban A, B và phải qua kỳ thi tuyển Cấp Trung đẳng Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc được cải biến thành Trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc.

Theo nghị định 483/GD ngày 23-3-1967 Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc trực thuộc Bộ Giáo Dục. Theo sắc lệnh 158/SL/VHGD/TN ngày 9-11-1968 Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn được cải biến thành Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp trực thuộc Bộ Văn Hoá Giáo Dục và Thanh Niên.

Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (1968-72) do một giám đốc điều khiển, có một phó giám đốc phụ tá. Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp gồm có ba trường: Cao đẳng Nông Nghiệp, Cao đẳng Thú Y và Chăn Nuôi, và Cao đẳng Thuỷ Lâm. Mỗi trường do một giám đốc điều khiển.

Theo sắc lệnh 174/SL/GD ngày 29-11-1972 Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp được cải biến thành Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp. Học viện có nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo và tu nghiệp cho các chuyên viên và cán bộ nông nghiệp cấp kỷ sư và các cấp cao hơn, sưu tầm, nghiên cứu, phát minh, phổ biến các kiến thức, kỹ thuật sản xuất và góp phần thiết lập các dự án nhằm phát triển các lãnh vực nông nghiệp.

Theo sắc lệnh 010-SL-VH-GDTN ngày 11-1- 1975 Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972–1974), Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật và Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật được sát nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức.
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp được biến cải thành trường Đại học Nông Nghiệp-Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức năm 1974 gồm 5 ngành: Nông khoa, Lâm khoa, Súc khoa, Ngư nghiệp và Kỹ thuật nông nghiệp.
http://dayvahoc.blogspot.com/2009_05_01_archive.html

Hinh 49: Một số sinh viên chuẩn bị đi thực tập 1966.


Hình 50: Chứng chỉ tốt nghiệp Kỹ Sư Nông Khoa-trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc 1969

Hình 51: Chứng chỉ tốt nghiệp Kỷ Sư Thủy Lâm. Hoc viện Quốc Gia Nông Nghiệp 1974

Hình 52: Chứng chỉ tốt nghiệp bằng Kỹ Sư Súc Khoa -trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc 1969.

B4C-Học Viện Quốc Gia Hành Chánh

Học viện Quốc gia Hành chánh: Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3 tháng 2), Quận 10, Sài Gòn. Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.

Hình 53: Học viện quốc gia hành chánh đường Alexandre de Rhodes

Hình 54: HVQGHC đường Trần Quốc Toản 1962

Hình 55: Học viện quốc gia hành chánh 1970s

Học viện Quốc gia Hành chánh là một cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa đặt trọng tâm vào việc đào tạo nhân viên hành chánh cao cấp cho chính phủ..
Đầu tiên, Trường Quốc gia Hành chánh được thành lập tại Đà Lạt do sắc luật của Quốc trưởng Bảo Đại ký ngày 7 tháng 4 năm 1952. Trường lúc đó thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục với học trình hai năm nhưng sau được chuyển giao cho Phủ Thủ tướng rồi Phủ Tổng thống. Đến năm 1955 sau khi về nước chấp chánh, Thủ tướng Ngô Đình Diệm vì nhận thấy vai trò quan trọng của cán bộ hành chánh trong công cuộc xây dựng quốc gia nên đã cho dời trụ sở của trường về Sàigòn và cải danh thành Học viện Quốc Gia Hành Chánh (QGHC), trụ sở đặt tạm tại số 4 đường Alexandre de Rhodes, sau này là trụ sở của Bộ Ngoại giao. Đến năm 1962, Học viện được chánh thức chuyển về trường sở mới to lớn và khang trang tại số 10 Trần Quốc Toản. Cơ sở vật chất gồm có giảng đường 500 chỗ ngồi, ký túc xá cho 114 sinh viên, thư viện lớn nhứt Việt Nam với 100.000 văn bản, nhà sinh hoạt, sân quần vợt, sân bóng chuyền, câu lạc bộ.

Mục đích của Hoc viện QGHC là nhằm đào tạo cán bộ cho guồng máy hành chánh của quốc gia qua 4 chương trình học gồm ban Cao học, ban Đốc sự, ban Tham sự, và ban Nặng lực Hành chánh. Muốn nhập học, thí sinh phải có văn bằng Tú tài toàn phần cho ban Tham sự, Đốc sự và văn bằng Cử nhân hay tương đương cho ban Cao học.

Tất cả thí sinh dự tuyển phải trải qua một kỳ khảo hạch gồm một bài bình luận về các vấn đề văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị…, để lượng giá kiến thức tổng quát, khả năng suy luận và khả năng diễn đạt tư tưởng của thí sinh. Ban Cao học có học trình hai năm và Đốc sự có học trình ba năm rưởi nhằm đào tạo công chức hạng A cho các ngành hành chánh và chuyên môn như kinh tế, tài chánh, thuế vụ, xã hội, ngoại giao… Môn học gồm những kiến thức như soạn thảo công văn, kế toán thương mại, tư tưởng và định chế chính trị, quản trị công quyền, quản trị nhân sự, luật hành chánh, luật thuế vụ… và cả huấn luyện quân sự. Khi thi mản khóa ngoài các bài thi về các môn đã học, sinh viên còn phải nộp một Luận văn tốt nghiệp về một đề tài được giáo sư hướng dẫn chấp thuận. Ban Tham sự với học trình hai năm nhằm đào tạo công chức hạng B. Còn ban Năng lực Hành chánh là những lớp học buổi tối dành cho quân nhân và công chức để giúp họ cải tiến kỹ năng và kiến thức chuyên môn hành chánh để dự thi vào các ngạch hành chánh.

Sau khi ra trường các sinh viên tốt nghiệp được bổ dụng đến nhiều cơ quan từ Phủ Tổng Thống, Phủ Thủ tướng, Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, Tổng Nha Ngân sách và các Bộ, Nha ở trung ương cho đến các ty, các sở ở địa phương và Phó tỉnh trưởng hoặc Phó quận trưởng.
http://quocgiahanhchanh.com/doidongqghc.htm

Hinh 56M
Hình 56: Văn Bằng Tốt Nghiệp Đốc Sự, Trường Quốc Gia Hành Chánh, tiền thân là Học Viện Quốc Gia Hành Chánh

B4D-Viện Đại Học Sài Gòn

Viện Đại Học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, cao đẩng nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh. Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn.
Vời thời điểm mới thành lập năm 1957, Viện Đại học Sài Gòn có 8 phân khoa là:
Văn khoa
Luật khoa
Y khoa
Dược khoa
Nha khoa
Khoa học
Sư phạm
Kiến Trúc.

Hình 57: Viện Đại Học Sài Gòn, Công trường chiến sĩ Đối diện Hồ Con Rùa
Sau 1975 mang tên chính thức Công trường Quốc Tế

B4D1-Y Dược Đại học đường

Trường Y khoa Hà Nội (École de Médecine de Hanoi) được Pháp thành lập theo Nghị định ngày 8/1/1902 và được tổ chức lại theo Nghị định ngày 25/10/1904 do Toàn quyền Paul Beau ký ban hành. Theo Nghị định ngày 25/10/1904, trường Y Hà Nội được đổi tên thành trường Y Đông Dương (Ecole de Médecine de l’Indochine)
Năm 1947: Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, thường gọi là Y khoa Đại học đường Sài Gòn, được thành lập, như một phân hiệu của trường Y khoa Hà Nội, thuộc Viện Đai Học Liên bang Đông Dương.
Năm 1954: Chính phủ Việt Nam Cộng hòa chính thức trường chính thức mang tên Trường đại học Y Dược Sài Gòn, hay thường được gọi Y dược đại học đường Sài Gòn hay ngắn gọn là Trường Y khoa Sài Gòn
Ngày 31 tháng 8 năm 1961, Y Dược Đại học đường Sài Gòn được phân chia thành Y khoa Đại học đường Sài Gòn và Dược khoa Đại học đường Sài Gòn. Ngày 12 tháng 8 năm 1962, Ban Nha khoa thuộc Y khoa Đại học đường Sài Gòn trở thành Nha khoa Đại học đường Sài Gòn. Cả 3 trường hoạt động độc lập trong Viện Đại học Sài Gòn.

Hình 58: Trường Y và Dược Khoa lúc mới thành lập trong Nam, 28 đường Testard, Trần Quý Cáp, sau 1975, Võ văn Tần

Trường Đại học Y khoa đầu tiên ở Việt Nam là Trường Y khoa Đông Dương thuộc Viện Đại học Đông Dương (Université de l’Indochine) đặt ở Hà Nội. Năm 1946 mở thêm một trường phụ thuộc ở Sài Gòn với tên Faculté de Médecine et de Pharmacie. Sau Hiệp định Genève năm 1954, cơ sở và nhân sự được dời từ ngoài Bắc vào Sài Gòn dưới tên mới: Faculté de Médecine et de Pharmacie, Université de Saigon

Tọa lạc tại số 28 đường Testard gần góc với đường Barbé (sau năm 1955 đổi là Trần Quý Cáp và Lê Quý Đôn) trên nền đất cũ của ngôi chùa lịch sử Khải Tường. Sang thời Pháp thuộc chùa bị phá. Lấp lên trên nền chùa cũ là biệt thự tư gia. Năm 1940 nữ bác sĩ Henriette Bùi, mở dưỡng đường sản phụ khoa ở đó. Bà là nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam, cũng là con gái của nghị viên Bùi Quang Chiêu, một nhân vật chính trị quen thuộc ở Nam Kỳ. Bà đã hiến biệt thự cho chính phủ để trường có nơi hoạt động

Tháng Tám năm 1961, Trường tách Y khoa và Dược khoa làm hai. Năm 1963 thì tách Nha khoa ra khỏi. Cũng vào những năm này các giáo sư người Pháp lần lượt giải nhiệm và ban giảng huấn chuyển qua người Việt. Năm 1962 là năm cuối cùng bằng Bác sĩ Y khoa của Viện Đại học Sài Gòn được công nhận tại Pháp

Hình 58:  Trung Tâm Giáo Dục Y khoa, đường Hồng Bàng 1966, Saigon

Ngày 9.5.1963 là ngày đặt viên đá đầu tiên xây dựng trung tâm giáo dục y khoa (TTGDYK) tại đường Hồng Bàng (Chợ Lớn), nay là Đại học Y Dược TP.HCM, với thiết kế của công ty kiến trúc Mỹ Smith, Hinchman&Grylls và đoàn kiến trúc sư VN do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ hướng dẫn. Bắt đầu từ năm 1961, hai bên đã cộng tác để thiết lập đồ án kiến trúc nói trên. Khoảng tháng 6.1962, hai bên đã hoàn thành đồ án xây cất TTGDYK với đầy đủ các chi tiết. Trường có nhiều phòng thí nghiệm, những giảng đường với 200 chỗ ngồi, một đại thính đường với 450 chỗ ngồi, một thư viện 200 chỗ ngồi, một quán cà phê và một bệnh viện y khoa. Với cơ sở lớn như vậy, hằng năm có độ 200 BS y khoa và 50 nha sĩ tốt nghiệp.

Sau ba năm xây dựng, ngày 16.11.1966, chính phủ VNCH đã làm lễ khánh thành TTGDYK với kinh phí xây dựng là 150 triệu đồng. GS Phạm Biểu Tâm đã đọc một bài diễn văn khai mạc trong đó có đoạn đáng chú ý: “Trung tâm này sẽ xứng danh là một TTGDYK vào bậc nhất nhì vùng Đông Nam Á”.
Cũng nên chú ý trường Y khoa Đại học đường Sài Gòn trực thuộc Viện Đại học Sài Gòn thoi VNCH đã hợp tác chặt chẽ với 20 bộ môn của 19 trường y tại Mỹ. Ngoài việc một số đông giảng viên VN được huấn luyện tại Mỹ từ 6 tháng đến 6 năm, phía Mỹ đã gửi đến VN lượng sách, báo đồ sộ cho thư viện và một lực lượng ban giảng huấn hùng hậu với 171 giảng viên, với những tên tuổi lớn của y khoa Mỹ lúc bấy giờ. Từ ngôi trường y khoa này, xuất hiện một loạt BS tài ba, những GS – tiến sĩ y khoa đầu ngành nổi tiếng tại VN hiện tại.

Từ 1948 đến1961 muốn nhập học phải có chứng chỉ PCB (Lý, Hóa, Sinh Hóa) của trường Đại Học Khoa Học và qua kỳ thi tuyển. Sau 1961 chỉ cần có bằng Tú Tài 2 ban A hoặc B và đậu kỳ thi tuyển vào năm Dự Bị Y Khoa cùng với 6 năm học nữa (học trình 7 năm). Trước 1966, Đại Học Y Khoa Sài Gòn giảng dạy bằng tiếng Pháp, nhưng sau năm này các giáo sư có thể giảng bằng một trong ba thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp. Cuối năm thứ 5, sinh viên thi tốt nghiệp và sau đó phải soạn và trình luận án viết bằng Pháp hoặc Anh Văn. Từ sau 1967 sinh viên mới được chọn thêm tiếng Việt.

Hình 60: Văn Bằng Tiến S Sĩ Y Khoa 1970

Hinh 61m tien si y khoa-2
Hình 61: Văn Bằng Tiến Sĩ Y Khoa 1971

B4D2-Tường Đại Học Dược Khoa

Hình 62: Đại học Dược Khoa Sài Gòn, 41 Cường Để

Trường Y Dược trước kia ở số 28 Trần Quý Cáp. Nay phân khoa Dược tách riêng và dọn về trường sở mới tại số 169 Công Lý, góc đường Hiền Vương
Trường Dược khoa từ năm 1954 là một cơ sở tổng hợp chung của y khoa lẫn dược khoa. Tháng Tám năm 1961 thời Đệ Nhất Cộng hòa, chính phủ cho tách phân khoa dược khỏi y khoa và lập trường Đại học Dược khoa Sài Gòn, lấy trụ sở chính ở số 169 đường Công lý. Tháng Tư năm 1964, trường sở chuyển về Thành Cộng hòa, số 41 đường Cường Để.
Từ trước, chương trình theo như của Pháp gồm 5 năm học.

Từ niên khóa 65-66, khi trường áp dụng thi tuyển chỉ lấy 400 sinh viên mỗi năm, và tới niên khóa 72-73 lấy xuống còn 200 một năm,
Sinh viên nhập học phải có bằng Tú tài II thuộc ban A (khoa học) hoặc B (toán học). Khi tốt nghiệp, sinh viên được cấp bằng “Dược sĩ Quốc gia” (Diplôme de Pharmacien d’État).
Ông Trương Văn Chôm tốt nghiệp Tiến Sĩ đại học Pháp,trở về Việt Nam dạy Đại Học Y Dược Sàigòn là người đã bỏ nhiều công sức tranh đấu để trường Dược Khoa được tách rời khỏi Đại Học Y Dược Khoa Sàigòn và trở thành Phân Khoa độc lập, Đại Học Dược Khoa Sàigòn.
Giáo Sư Trương Văn Chôm cũng là chủ nhân Viện Bào Chế VANCO.
Sau 1968 trường nâng cấp với chương trình Tiến Sĩ Đệ Tam Câp.

hinh 63M duoc si
Hình 63: Văn Bằng Dược Sỉ Quốc Gia

B4D3-Trường Đại học Nha Y khoa Sài Gòn

Tháng 10 năm 1954, GS. E. Leriche, phụ trách Ban Nha khoa trường Đại học Y Dược Hà Nội chuyển vào Sài Gòn. Một số sinh viên Việt Nam – người miền Bắc và miền Nam – cũng chuyển theo. Trong lịch sử ngắn ngủi của đào tạo ngành Nha trước đó, có thể ghi nhận những điểm mốc quan trọng: 1939 khai sinh, 1944 khóa Nha sĩ quốc gia đầu tiên, 1945 thành lập “Ban Nha học” trong Đại học Y Dược khoa hỗn hợp tại Hà Nội.

Tháng 5 năm 1955, tại Y Dược Đại học đường Sài Gòn, Ban Nha khoa được giao cho GS. Trịnh Văn Tuất phụ trách. Ban Nha khoa về qui mô tổ chức và hoạt động còn nhỏ yếu. Cơ sở giảng dạy và thực tập chưa có nên phải đặt tại bệnh viện Bình Dân.

Theo sắc lệnh số 83/GD ngày 12 tháng 8 năm 1963 của Tổng thống Việt Nam cộng hòa, Nha khoa Đại học đường được thành lập, nhưng mãi hơn một năm sau, mới chính thức tách rời Y khoa đại học đường Sài Gòn. GS. Nguyễn Huy Tiếp được bổ nhiệm giữ chức vụ Khoa trưởng đầu tiên.

Ngày 16 tháng 11 năm 1966, Y khoa Đại học đường Sài Gòn và Nha khoa Đại học đường Sài Gòn chính thức chuyển về Trung tâm Giáo dục Y khoa trên đường Hồng Bàng,Quận 5. Trung tâm có cơ sở vật chất khá tiện nghi, hiện đại lúc bấy giờ, được sử dụng chung cho 2 trường: Y khoa Đại học đường Sài Gòn và Nha khoa Đại học đường Sài Gòn, với 1 đại giảng đường 500 chỗ ngồi, 3 giảng đường với mỗi giảng đường có 300 chỗ ngồi, thư viện và đầy đủ các khu y học cơ sở cùng với các phòng thí nghiệm.

Muốn nhập học phải có chứng chỉ SPCN (Lý, Hóa, Vạn Vật) hoặc PCB (Lý, Hóa, Sinh Hóa) của trường Đại Học Khoa Học và học thêm 4 năm trường Nha. Sau 1966 thí sinh có Tú Tài 2 trực tiếp thi vào thì học trình là 5 năm. Sinh viên vừa học lý thuyết vừa thực tập tại phòng thí nghiệm ở trường và tại các phòng giải phẫu của bệnh viện, tốt nghiệp qua kỳ thi cuối năm thứ 5 được cấp bằng Nha Sĩ Quốc Gia.

B4D4-Trường Đại học Luật Khoa-Luật Khoa đại học đường

Năm 1933, chính quyền bảo hộ Pháp đã cho thành lập một trường luật lấy tên là Trường Cao Ðẳng Pháp Chính Ðông Dương( Ecole Supérieure D’Aministration Indochinoise) đặt trụ sở tại Hà Nội, nhằm đào tạo một tầng lớp quan lại người bản xứ, cung ứng cho guồng máy cai trị ba nước thuộc địa Ðông Dương là Việt, Miên, Lào. Người Việt thường gọi trường này là Trường Hậu Bổ. Từ năm 1933 trường được đổi tên thành Trường Cao Ðẳng Luật Học ( Ecole Supérieure De Droit).

Ðến năm 1938, Trường Cao Ðẳng Luật Học được nâng lên thành một Phân Khoa Luật(Faculté De Droit) tại Hà Nội trực thuộc Ðại Học Luật Khoa Ba Lê Nam 1946 một chi nhánh của Phân Khoa Luật Hà Nội được mở ở Sài Gòn vào năm 1946, trụ sở đặt ở số 17 Duy Tân Sài Gòn.

Sau Hiệp Ðịnh Genève năm 1954 chia đôi lãnh thổ, cơ sở Luật Hà Nội di chuyển vào Miền Nam, sát nhập với Trung Tâm Sài Gòn, lấy tên là Phân Khoa Luật (Faculté De Droit) trực thuộc Viện Ðại Học Sài Gòn.

Ngày 30-4-1955, cùng lúc thu hồi chủ quyền về Việt Nam Cộng Hòa, Trường Luật được mang tên tên Luật Khoa Ðại Học Ðường SàiGòn, hay thường gọi là Ðại Học Luật Khoa Sài Gòn

Trong khoảng thời gian này tiếng Việt được dùng để giảng dạy thay tiếng Pháp, nhưng chương trình giảng dạy căn bản vẫn theo chương trình giảng huấn và tài liệu giáo khoa tham khảo của các giáo sư Việt Nam vẫn là theo Ðại Học Luật Pháp. Mãi sau này, khi trường luật có một số Giáo Sư tốt nghiệp từ Hoa Kỳ về giảng dạy, giáo trình, tài liệu giáo khoa mới được mở rộng thêm qua các trường luật của Hoa Kỳ.

Về sĩ số sinh viên, vào khoảng cuối thập niên 1960 trở đi, sĩ số sinh viên ghi danh tăng nhanh. Năm 1970 đã có trên 13.000 ghi danh học bốn năm cử nhân luật. Vì con số sinh viên quá lớn so với khả năng trường ốc, với số phòng ít lại nhỏ hẹp, số giáo sư ít ỏi, có thời gian trường phải mượn cả rạp Thống Nhất trên đại lộ Thống Nhất –cũng là hội trường Sổ Xố Kiến Thiết Quốc Gia- để giảng dạy cho sinh viên năm thứ 1&2. Trước năm 1967, học trình Ban Cử Nhân Luật là 3 năm, chưa phân ban, các sinh viên đều học như nhau, khi tốt nghiệp đều được cấp phát văn bằng Cử Nhân Luật. Nếu tiếp tục lên Cao Học, sinh viên mới chọn ban ngành: Công Pháp, Tư Pháp hay Kinh Tế.

Từ sau năm 1967, học trình Ban Cử Nhân Luật là 4 năm Hai năm đầu chưa phân ban, sinh viên học chung cùng một chương trình.Bắt đầu từ năm thứ ba trở đi, sinh viên sẽ ghi danh học theo ngành mình chọn, với các môn học chung và chuyên biệt, như Ban Kinh Tế sẽ học thêm các môn Thống Kê (Statistics), Kinh Tế Toán Học( Econometrics). Sau 4 năm tốt nghiệp, sinh viên được cấp văn bằng Cử Nhân Luật ban công pháp, tư pháp hay kinh tế. Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân, sinh viên có thể ghi danh tiếp tục học Ban Cao Học Luật hai năm theo ngành của mình, để đủ điều kiện trình luận án thi lấy bằng Tiến Sĩ Luật.

Hình 64: số 17 đường Garcerie đường Duy Tân trước 1975, sau Phạm Ngọc Thach Saigon

Địa điểm này nguyên là một trường Mẫu Giáo thời Pháp thuộc, được Bộ Quốc Gia Giáo Dục chính phủ Nam Triều thu hồi, cấp cho trường Cao Đẳng  Luật  Hà Nội để mở một phân khoa Luật tại Sài Gòn vào năm 1946.
Từ 1955, dưới thời đệ nhất Cộng Hòa, trường được mang tên Luật Khoa Ðại Học Ðường SàiGòn, hay thường gọi là Ðại Học Luật Khoa Sài Gòn.


Hình 65: Luật Khoa Đại Học Đường

Hình 66: Chứng chỉ Cử Nhân Luật chế độ 3 năm- 1967


Hinh 67M
Hình 67: Chứng chỉ tốt nghiệp Cử Nhân Luật Khoa-Ban Kinh Tế 1971

B4D5-Trường Đại Học Kiến Trúc Saigon

Thời Liên Bang Đông Dương chỉ có Ban Kiến trúc thuộc Trường Mỹ thuật Đông Dương (École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine) Đặt tại Hà Nội, lập ra năm 1926.
Năm 1942, Ban Kiến trúc thuộc Trường Cao đẳng Mỹ thuật.
Năm 1944, Ban Kiến trúc được nâng cấp thành Trường Kiến trúc thuộc Cao đẳng Mỹ thuật, vì chiến tranh, được chuyển từ Hà Nội vào Đà Lạt, rồi chuyển từ Đà Lạt vào Sài Gòn cuối năm 1950.
Từ năm Năm 1954 và về sau: Theo Hiệp định Genève, Viện Đại học Hà Nội chuyển thành Viện Đại học Quốc gia Việt Nam và sau cùng lấy danh hiệu là Viện Đại học Sài Gòn.Trường mở thêm Ban thiết kế đô thị, thời gian đào tạo là 2 năm và Ban cán sự Kiến trúc thời gian đào tạo là 3 năm .

Trường Cao đẳng Kiến trúc thuộc Viện Đại học Sài Gòn đã mở thêm:
Ban Thiết kế Đô thị (từ niên khóa 1955-1956)
Ban Cán sự Kiến trúc (từ niên khóa 1958-1959)

1967: Trường cao đẳng Kiến trúc trở thành trường Đại học Kiến trúc thuộc Viện Đại học Sài gòn. Từ năm 1967 ngưng đào tạo Ban cán sự Kiến trúc
Muốn ghi danh học đại học Kiến trúc phải có Tú Tài toàn phần hay tương đương. Kỳ thi cuối năm có hai khoá.
Sinh viên tốt nghiệp phải qua hoc trinh sáu năm với một đồ án vào cuối năm 6. Nếu đồ án ra trường không xong, sinh viên sẽ không được cấp văn bằng tốt nghiệp
Đêm Kiến Trúc , một điểm đặc thù của sinh viên đại học này, một đêm ca nhac, khiêu vũ chỉ dành cho sinh viên kiến trúc và khách được mời, “đêm kiến trúc” thường được tổ chức vào dịp Noel, nối tiếng nhất trong giới sinh viên đại học Saigon với những chương trình gỉải trí thâu đêm suốt sáng ngay cả trong giai đoạn giới nghiêm (dĩ nhiên phải được phép đặc biệt và không ai được phép lai vãng ngoài khuôn viên của trường).


Hình 68: Trường Kiến Trúc bên phải, đối diện công viên Vạn Xuân bên trái
126 Pasteur-Góc Pasteur và Trần Quý Cáp. Công viên Vạn Xuân bị phá bỏ sau 1975.
Hình 69:  Đại Học Kiến Trúc

Hình 70: Bằng Kiến Trúc Sư Đông Dương

Hình 71: Văn bằng Kiến Trúc Sư thời Việt Nam Cộng Hòa 1971

B4D6 -Trường Đại học Khoa học-Khoa học đại học đường

Trường Cao đẳng Khoa học liên bang Đông Đương được Pháp thành lập vào năm 1941 . Năm 1947 thì mở thêm chi nhánh ở Sài Gòn ở số 125 đường Bonard-địa điểm của Policlinique Dejean De La Bâtie (bây giờ là đường Lê Lợi , sau 1955 được đổi tên là Bệnh Viện Sài Gòn-dân Sàigòn gọi là Bệnh viện hay nhà thương Đô thành, và nay bệnh viện Đa khoa Sài Gòn). Sang thời Quốc gia Việt Nam thì Trường Cao đẳng Khoa học đổi thành Trường Đại học Khoa học năm 1953. Năm 1954 thì cơ sở đại học Hà Nội chuyển vào Sài Gòn và hợp nhất thành trường Khoa học Đại học đường Sài Gòn. Thời đệ nhị Cộng hoà 1970 , trường tọa lạc trên đại lộ Cộng Hòa (nay là Nguyễn Văn Cừ) trong khuôn viên của trường Petrus Ký, gần trường Sư Phạm.

Phần đông sinh viên ghi danh theo hoc phải có bằng tú tài hai ban A hay B- Sinh viên Ban B thường ghi danh vao những chứng chỉ phổ thông và nổi tiếng như chứng chỉ MGP (Toán Lý Ðại Cương), chứng chỉ MPC (Toán Lý Hóa). Những chứng chỉ này rất khó đậu nhưng dể vào những trường Cao Đẩng chuyên nghiệp. Những sinh viên đa phần theo ban A, thì ghi danh vô chứng chỉ SPCN (Lý Hóa Vạn Vật) để sau nầy thi vô Ðại học Y Khoa, Dược Khoa Học. Trường cũng đào tạo 1 năm Dự Bị Y khoa (APM) cho sinh viên theo ngành Y, với Chứng Chỉ PCB (Lý Hóa Sinh). Đào luyện theo hệ thống Chứng Chỉ cho đến bậc Cử Nhân, KHĐHĐ cũng cấp phát các văn bằng Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp (từ năm 1967) và Tiến Sĩ Quốc Gia Khoa Học. Cho đến năm 1964, học trình các chứng chỉ là 1 năm và thành phần Cử Nhân Tự Do là 3 chứng chỉ, hoặc Cử Nhân Giáo Khoa khi có 4 chứng chỉ theo qui định cho từng chuyên khoa. ĐHKHSG cung cấp nhân viên giảng huấn khoa học cho Trường và cho các viện đại học khác được mở sau này như Viện Đại Học Dalat, Cần Thơ, Nha Trang, Tiền Giang, kể cả Viện Đại Học Huế và Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ. Ngoài Trường Đại Học Sư Phạm (học 3 năm), KHĐHSG cũng là nơi đào tạo nhiều giáo sư trung học, và tốt nghiệp ở ĐHKHSG cũng có thể làm việc ở nhiều cơ quan khác.

Hinh 72: Trường Cao Đẳng Khoa Học Saigon nằm trong khuôn viên Policlinique DeJean De La Bâtie , 125 đường Bonard ,đường Lê Lợi quận nhất ngày nay.

Hình 73: Khoa học đại học đường, đường Cộng Hòa 1960s

Hình 74: Chứng chỉ Toán Lý Hoá-MPC , Khoa học đại học đường,1966

hinh 75M
Hình 75: Chứng chỉ Cử Nhân Vật Lý 1969, Khoa học đại học đường Sài Gòn, 1969

B4D7-Đại Học Văn Khoa

Hình 76: Đại học Văn Khoa -đường Gia long –Lý  tự trọng.

Hình 77: Đại học Văn Khoa đường Cường Để 1964

Khu trường này trước kia là trại lính Pháp, xây xong 1873 có tên là Martin des Pallières, tên một tướng Pháp đến thời Đệ nhất Cộng hòa đổi tên “Thành Cộng hòa”, do Lữ đoàn phòng vệ Tổng  Thống phủ trấn giữ. Sau đảo chính 1-11-1963, ĐH Văn khoa được dời từ đường Gia Long về đây (khu ĐH Văn khoa cũ trở thành Thư viện Quốc gia, nay là Thư viện KHXH). ĐH Văn khoa và ĐH Dược nằm đối diện nhau ở ngã tư Cường Để – Thống Nhất (nay là Đinh Tiên Hoàng – Lê Duẩn).  Kế cận trường Dược là trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc gồm cả hai tòa nhà bị cắt ngang bởi đường Đinh Tiên Hoàng.

ĐH Văn khoa ngày trước là một trong ba trường đại học của Viện ĐH Sài Gòn không thi tuyển, chỉ ghi danh học với điều kiện bắt buộc là phải tốt nghiệp tú tài toàn phần. Hai đại học kia là ĐH Khoa học và ĐH Luật. Cánh cửa các đại học này luôn luôn mở rộng đón nhận sinh viên không phân biệt lứa tuổi, thành phần trong xã hội. Nếu như những sinh viên vào ĐH Khoa học hoặc Luật thường có mục đích tương đối rõ ràng, như vào Luật mong mai sau tốt nghiệp làm luật sư hay vào ngạch tư pháp, tòa án… Vào học ĐH Khoa học một năm để sau đó thi vào ĐH Y, hay các ngành kỹ thuật – công nghệ, hoặc học xong ra trường sẽ đi dạy hay làm cơ sở chuyên môn đòi hỏi người làm khoa học, nghiên cứu khoa học.  Đặc biệt những người ghi danh vào  Đại học Văn khoa thường là người yêu thích văn chương hay thích những khoa học xã hội khác như lịch sử, triết học, ngôn ngữ… Hằng năm số lượng sinh viên ghi danh vào Văn khoa đông vô kể nhưng chỉ có những sinh viên “chính quy” mới thường xuyên đến trường nghe thầy giảng dạy, còn đa số sinh viên ghi danh học thêm chỉ thỉnh thoảng đến trường “nhìn mặt thầy cho biết”, rồi mua “cua” về nhà học.

Hinh 78M
Hình 78: Chứng chỉ Cử Nhân Giáo Khoa Anh Văn 1974. Trường Đại học Văn Khoa
Sài Gòn

Hình 79: Chứng chỉ Anh Văn thực hành 1974

Hình 80: Chứng chỉ Văn Minh Việt Nam 1973

Hinh 81M
Hình 81: Chứng chỉ Anh Văn thực hành và chứng chỉ Văn Chương Mỹ 1969

B4D8 –Trường Sư Phạm

Trường Quốc Gia Sư Phạm
Ngày 9-3-1955, Ngô Đình Diệm ban hành Nghị định số 111-GD, thành lập trường Quốc gia Sư phạm tại Sài Gòn để đào tạo giáo viên phụ trách việc giáo huấn tại các trường tiểu học toàn quốc. Nghị định quy định từ nay về sau các giáo viên tại các trường tiểu học toàn quốc phải là sinh viên tốt nghiệp trường Quốc gia Sư phạm. Về nguyên tắc, tất cả giáo sinh trường Quốc gia Sư phạm được hưởng chế độ nội trú miễn phí và chuyên chở miễn phí.

Trường Quốc Gia Sư Phạm sau nầy đổi tên là Trường Sư Phạm Sài Gòn bắt đầu tuyển sinh năm 1955. Giáo sinh phải có bằng trung học Đệ Nhất Cấp và được đào tạo phân ra 2 hệ: học 1 năm ngạch giáo viên tiểu học, học 3 năm ngạch Giáo Học Bổ Túc (Ra trường có thể được bổ nhiệm dạy những lớp Đê nhất cấp của bậc trung học).

Từ năm 1962 trình độ dự tuyển vào trường của giáo sinh được nâng lên cao, phải có bằng Tú Tài phần I, học trong 2 năm. Chương trình đào tạo được cải tiến, học thêm nhiều môn học mới, cụ thể và chuyên sâu hơn trong nghiệp vụ giảng dạy trong lớp, quản trị học đường, giao tiếp cộng đồng.

Trong nổ lực nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên như nhiều nước phát triễn khác, dạy bậc tiểu học cũng phải là người tốt nghiệp ngành Sư Phạm bậc đại học, kể từ năm 1973, trình độ dự tuyển của giáo sinh cũng được nâng lên là phải có bằng Tú Tài phần II, học 2 năm chuẩn bị cho bước đầu đổi tên trường là Cao Đẳng Sư Phạm.

Trường Quốc gia Sư phạm rồi trường Sư Phạm và Trường Cao đẳng Sư phạm có ba cấp học giáo sinh trường Sư Pham tốt nghiệp day cấp tiểu học, giáo sinh Cao Đẳng Sư Phạm trung cấp: giáo sinh học 2 năm sau tốt nghiệp trở thành giáo sư trung học đệ nhứt cấp hạng 4 chỉ số 400; bậc sư phạm cao cấp: giáo sinh viên sau khi học 2 năm ở bậc sư phạm trung cấp học thêm 2 năm ở bậc sư phạm cao cấp khi tốt nghiệp sẽ trở thành giáo sư trung học đệ nhị cấp . Do đó, để trở thành một giáo viên trường trung học đệ nhị cấp sinh viên phải trải qua 4 năm đào tạo.
https://luutru.gov.vn/cong-bo-gioi-thieu-tai-lieu/truong-dai-hoc-su-pham-sai-gon-%E2%80%93-luoc-su-theo-tai-lieu-luu-tru.htm

Đại Học Sư Phạm

Tiền thân là trường Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương (École Supérieure de Pédagogie) thành lập tại Hà Nội do nghị định ngày 15/10/1917 của Toàn Quyền Albert Sarraut. Năm 1950 trường trở thành một Khoa thuộc Viện Đại Học Hà Nội. Sau 1954 trường di chuyển vào Sài Gòn.

Ngày 21-8-1958, Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 426-GD cải tổ Trường Cao đẳng Sư phạm thành Trường Đại học Sư phạm đặt thuộc Viện Đại học Sài Gòn với 3 ban: Ban Văn khoa phụ trách các môn như: Việt – Hán, Triết học, Sử – Địa; Ban Sinh ngữ phụ trách các môn như Pháp văn, Anh văn, sinh ngữ khác; Ban Khoa học phụ trách các môn như: Toán, Lý – Hóa, Vạn vật. Sinh viên trường Đại học Sư phạm phải có bằng tú tài II (toàn phần) hoặc một văn bằng tương đương và trải qua kỳ thi nhập học, thời gian học là 3 năm. Sinh viên được hưởng chế độ nội trú miễn phí và chuyên chở miễn phí, hàng tháng còn có thể được cấp một khoản tiền để chi dùng lặt vặt. Sinh viên đang theo học tại Trường Cao đẳng Sư phạm được tiếp tục học theo chương trình và thể lệ hiện hành của nhà trường cho đến khi mãn khóa hay được chuyển sang Trường Đại học Sư phạm.

Theo đề án di chuyển Viện Đại học Sài Gòn lên Thủ Đức, trường Đại học Sư phạm là một trong những trường thành viên tiến hành xây dựng cơ sở ở Thủ Đức sớm nhất. Ngày 15-5-1963, lễ đặt viên đá đầu tiên tại Sư phạm Đại học đường khu đại học Thủ Đức diễn ra có sự tham dự của Ngô Đình Diệm.

Hình 82: Trường Sư Phạm tiền thân của trường Quốc Gia Sư Phạm

Hình 83: Trường Sư Phạm Sài Gòn


Hình 84: Chứng chỉ Tốt Nghiệp Đại Học Sư Phạm 1972

Hình 85: Nghị định bổ nhiệm Sinh Viên Tốt Nghiệp Đại Học Sư Phạm khoá đầu tiên –Khoá 1, 1970 được bổ dụng vào ngạch Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp

Thay cho lời kết thúc

Chương trình học ở Việt Nam cho tới ngày Nhật tuyên bố  trả độc lập cho Chính Phủ Trần Trọng Kim 1954, cụ thể là chương trình giáo dục của Pháp với sự thay đổi, bổ túc để phù hợp với tình hình địa phương và hoàn cảnh chính trị, chương trình Pháp- Việt, dùng tiếng Pháp làm sinh ngữ chính và Tiếng Việt chỉ được xem như một sinh ngữ phụ.

Sau năm 1945, sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, Chính Phủ Quốc Gia ban hành chương trình Việt. Chương trình này được gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn được đem ra áp dụng trước ở Bắc Việt và Trung Việt, nhưng riêng ở Miền Nam thì vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp và Pháp Việt vẫn còn tồn tạị.
Sau Hiệp định Genève 20/7/1954 chia đôi đất nước, ở miền Nam chương trình Việt được bắt đầu áp dụng triệt để thay thế chương trình Pháp-Việt.

Xin ghi nhận những đóng góp lớn lao của các nhà lảnh đạo có tâm có tầm cho giáo dục miền Nam , cho sự bành trướng và phát triển mạnh mẽ của nền giáo dục quốc gia dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.
Cuối cùng  người viết xin ghi nhận nguồn tài liệu từ Internet cũng như gởi lời cảm ơn đến bạn xưa, đồng môn đã cung cấp tư liệu quý báu.
DQ Hung, NKH Thuy, LB Hong, V T Hien, NT Hai, NK Ba, PT Khai, TV Mai, LNC Minh, VM Ly, NV Cua, NK Minh

Phụ Lục:
Trường Quốc Gia Võ Bị Đà Lạt

Hình 86: Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt trước 1975

Suốt thời gian 1950-1975, trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt là một cơ sở đào tạo sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Tiền thân là trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế thiết lập 1 tháng 12 năm 1948 do chính phủ Quốc gia Việt Nam lập ra hầu đào tạo nhân sự chỉ huy cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, trường được chuyển về Đà Lạt với tên mới là Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (École Militaire Inter-Armes), khai giảng ngày 5 tháng 11 năm 1950.

Thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, trường được cải tổ lại theo nghị định của Bộ Quốc Phòng ngày 29 tháng 7 năm 1959, đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ huấn luyện sĩ quan hiện dịch cho ba quân chủng: hải quân, lục quân, và không quân cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Đến giữa thập niên 1960, khóa học của Trường Võ bị Đà Lạt là chương trình 3 năm sau lại tăng lên 4 năm , bắt đầu áp dụng năm 1966. Học trình lúc đầu tương đương với trường cao đẳng. Sinh viên mãn khóa được miễn thi nhập học vào trường đại học vì coi như hoàn tất bằng tú tài toàn phần (I & II). Đến năm 1966 thì ngang hàng với bằng cử nhân đại học, tương đương với các trường Võ bị quốc tế. Hai năm đầu sinh viên mang cấp trung sĩ, hai năm sau là chuẩn úy. Sinh viên học xong 4 năm thì tốt nghiệp với cấp thiếu úy và một chứng chỉ tương đương với cấp bằng Cao Đẳng Đại Học.

Hình 87. Văn Bằng Cử Nhân Khoa Học ứng dụng cấp cho sỉ quan tốt nghiệp trường
Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
Văn bằng Tốt Nghiệp Trường Võ Bị Quôc Gia Đà Lạt-tương đương với văn bằng Kỹ Sư Cao Đẳng Kỹ Thuật.

Nhìn lại hình ảnh những ngôi trường nổi tiếng xưa

Trường Vẽ-Trường Trung Học Trang Trị Mỹ Thuật Gia Định

Năm 1913, theo sáng kiến của hai Ông L’Helgoache và Ông Garnier trường được thành lập và Ông Andre Joyeux là Kiến Trúc Sư Công chánh người Pháp điều khiển trường. Khóa học đầu tiên được khai giảng ngày 14-10-1913 với 15 học sinh.

Tên trường qua các giai đoạn:
1913 – 1935: Tên trường là TRƯỜNG VẼ (L’école de Dessin)
1935 – 1940: Tên trường là TRƯỜNG MỸ NGHỆ (L’école d’ Arts)
1940 – 1961: Tên trường là TRƯỜNG MỸ NGHỆ THỰC HÀNH GIA ĐỊNH (L’école des Arts Appliques de Gia Định).

1961- 1971: Tên trường là TRƯỜNG TRUNG HỌC TRANG TRÍ MỸ THUẬT GIA ĐỊNH(theo Nghị Định số 206- GĐ/HV/NĐ ngày 21-02-1961)

1971- 1975: Tên trường là TRƯỜNG QUỐC GIA TRANG TRÍ MỸ THUẬT GIA ĐỊNH (theo nghị định số 694-NĐ/QVK/VH ngày 01-07-1970)
Tháng 10- 1954 một số họa sĩ yêu nghề đã tổ chức hội nghị giáo khoa Mỹ Thuật và Mỹ Nghệ tại Gia Định quyết định đề nghị thành lập một trường Cao Đẳng Mỹ Thuật có cơ sở bên cạnh Trường Mỹ nghệ thực hành Gia Định.

1954- 1971: Tên trường CAO ĐẲNG MỸ THUẬT SÀI GÒN (theo Nghị Định số 1192- GD ngày 31-12-1954), nằm cạnh cơ sở  trường Trang trí Mỹ Thuật Gia Định.

1971- 1975: Tên trường là TRƯỜNG QUỐC GIA CAO ĐẲNG MỸ THUẬT SÀI GÒN (theo Nghị Định số 273-QVK/ VHNĐ ngày 03-08-1971)

Biết bao thế hệ Học sinh- sinh viên của Trường đã trở thành Họa Sĩ, Điêu khắc gia, Trang trí gia, góp phần làm rạng rỡ nền Mỹ Thuật Việt Nam trong và ngoài nước .

Hình 88: Trường trung học Trang Trí Mỹ Thuật, ngã ba Chi Lăng ̣(nay Phan đăng lưu) và Nguyễn Văn Học (nay Nơ trang long) Gia Định 1960.
Sau 1975, sau nhiều lần thay da đổi áo, trường xưa không còn nữa.

Trường Chasseloup Laubat

Sau khi chiếm được Nam Kỳ với Hòa ước 1874. Pháp cho thành lập Collège Indigène le 14  Novembre 1874- Hai năm sau 1876 đổi thành Collège Chasseloup Laubat (Marquis de Chasseloup-Laubat, Bộ trưởng Bộ Hải quân của Napoléon III). Đến năm 1954 thì đổi thành Lycée Jean Jacques Rousseau. Thời Việt Nam Cộng Hoà trường được mang tên Lê Quý Đôn từ năm 1968 đến ngày nay.

Năm 1927, Collège Chasseloup-Laubat được tách ra hai khu vực : khu vực Âu Châu dành cho người chính quốc Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp và khu vực cho người bản địa, tuy cùng trong khuôn viên Collège Chasseloup nhưng được hưởng quy chế tự trị với tên trường mới Collège de Cochinchine. Năm 1929 trường Cochinchine chuyển dời về trường mới xây với tên Petrus Ký trung học đường trên đường Cộng Hòaà, sau 1975 tên Nguyễn văn cừ cho đến ngày nay-  trường trung học phổ thông Lê hồng phong

Truong Chasseloup Laubat Saigon
Hình 89: Cổng trước Collège Chasseloup-Laubat 1905

Hình 90: Nữ Sinh trường Collège de jeunes filles Calmette (sau này Lycée Marie Curie en 1948) đi học tạm tại trường Chasseloup 1947 

Hinh 91Le Collège de jeunes filles Calmette (sau này Lycée Marie Curie en 1948)

truong albert sarrault ha noi
Hình 92: Trường Albert Sarraut Hanoi

Truong Quoc hoc Hue
Hình 93Trường Quốc Học Huế

Hình 94Collège Le Myre de Vilers-Collège de My Tho

Hình 95: Charles Le Myre de Vilers với quan chức Viêt Nam

Người sốt sắng thực hiện mục tiêu văn minh hóa người Việt Nam là Le Myre de Vilers. Ông là người Pháp dân sự đầu tiên được cử làm Thống Đốc Nam Kỳ. Các thống đốc trước ông đều thuộc phe quân sự, nhất là trong hải quân Pháp. Le Myre de Vilers làm Thống Đốc từ năm 1879 đến năm 1892. Để thực hiện sứ mạng văn minh hóa người Việt ông cho mở rất nhiều trường học, từ trường sơ cấp ở làng đến trường tiểu học ở quận và tỉnh, và đặc biệt nhất là một trường trung học (collège) ở Nam Kỳ. Đây là trường trung học đầu tiên và vào cuối thế kỷ XIX đây là trường trung học duy nhất cho cả Miền Nam. Trường chỉ có hai năm học và mang tên là Collège de Mỹ Tho. Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958) đã từng học ở trường này.

Sang thế kỷ XX trường có đủ bốn năm học và được đổi tên là Collège Le Myre de Vilers, do một số giáo sư của trường đề nghị để ghi nhớ ông Thống Đốc dân sự đầu tiên đã mở ra trường này và cũng để ghi nhớ công lao của ông đối với việc phát triển nền giáo dục mới ở Nam Kỳ. Đến giữa thập niên 1950 trường được phát triển thêm, có các lớp đệ nhị cấp đủ để trở thành trường trung học đệ nhị cấp. Trường được đổi thành Lycée và mang tên một danh nhân Miền Nam Việt Nam: cụ Đồ Chiểu.
Danh xưng Lycée Nguyễn Đình Chiểu rồi Trung Học Nguyễn Đình Chiểu ra đời từ đó và còn mãi đến bây giờ.

Hình 96: Collège de Can tho 1930s, sau mang tên Phan Thanh Giản-Đoàn Thị Điểm.

truong Buoi Ha noi
Hình 97: Trường Bưởi Hà Nội, sau 1945 đổi tên là Chu Văn An

Hình 98: Trường Yersin Dalat
Năm 1932 trường Petit Lycée Dalat được đổi tên thành Grand Lycée de Dalat Lycée Yersin để tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin.


ThamKhảo

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=278&Itemid=49

http://openedu.vn/Kho-tri-thuc/Thi-cu-va-giao-duc-Viet-Nam-thoi-Phap-thuoc

https://thanhhaphung.wordpress.com/2011/09/12/he-thong-giao-duc-thoi-phap-thuoc/

https://sites.google.com/site/truongkythuatcaothang/tomtac

http://lientruongkythuat.org.au/index.php/truongxua/lich-su-cac-truong

http://qgtm-usa.blogspot.com/2014/01/lich-su-truong-quoc-gia-thuong-mai-sai.html

https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/hai-lan-cai-cach-giao-duc-duoi-thoi-phap-206901.html

https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/lam-vinh-the/nho-ve-truong-petrus-ky-nhung-nam-dau-cua-thap-nien-1950

https://nhacxua.vn/truong-nu-sinh-ao-tim-va-nu-trung-hoc-gia-long-cua-sai-gon-ngay-xua/

http://www.petrusky.de/index.php/startseite/hinhthanhtruongpk/53-l-ch-s-tru-ng-petrus-ky-tru-c-75

https://www.svqy.org/truongduocvatoi.html

http://ndclnh-mytho-usa.org/Bai%20Viet/Dac%20San%20NDC-LNH-MYTHO%202014.pdf

https://halongvandan.wordpress.com/2015/04/07/chup-lai-cac-bang-cap-thoi-phap-thuoc-dau-tk-19/

https://thanhhaphung.wordpress.com/2011/09/12/he-thong-giao-duc-thoi-phap-thuoc/
16-https://drnikonian.wordpress.com/2013/12/03/mot-nen-giao-duc-tu-te-thi-nhu-the-nay-nay/

https://docvui-suynghi.net/bai-nen-doc-m/bnd-2016/bnd512/

http://tongphuochiep.com/index.php/bao-chi/l-ch-s/28410-giao-d-c-vi-t-nam-du-i-th-i-phap-thu-c-1862-1945-ph-m-d-c-lien

http://dalatarchi-tranconghoakts.blogspot.com/2011/07/kien-truc-truong-my-thuat-ong-duong.html-Tóm lược lịch sử Đại Học Kiến trúc

https://core.ac.uk/download/pdf/52194341.pdf  -L’´ecole fran¸caise au Vietnam de 1945 a 1975 : de la mission civilisatrice `a la diplomatie culturelle

http://phuongmaigallery.com/vn/hoi-hoa-viet-nam/Truong-Ve-Gia-Dinh-Dai-Hoc-My-Thuat-Tp-Hcm-424/p/80

Y Nguyên Mai Trần

Source:

.